Hướng dẫn, khuyến cáo nông dân thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật chăm sóc lúa
Diện tích gieo cấy lúa trên địa bàn Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Chí Linh phụ trách khoảng 8076 ha, trong đó:
- Trà mùa sớm: Gồm các giống: Q5, KD18, TBR97, DQ11, TBR225, ...
- Trà mùa trung: Gồm các giống: TBR225, TBR279, DQ11, Thiên ưu 8, Hương Bình, Đài thơm 8, BC15, ...
- Trà mùa muộn: Gồm các giống: Nếp hoa vàng, nếp xoắn, nếp Quýt,...
Để lúa mùa sinh trưởng, phát triển thuận lợi và đạt được mục tiêu năng suất đề ra, Trạm Trồng trọt & BVTV Chí Linh hướng dẫn, khuyến cáo nông dân thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật, cụ thể như sau:
I. Kỹ thuật chăm sóc
Phấn đấu hoàn thành gieo cấy trà mùa sớm và trà mùa trung trước ngày 15/7/2026; trà mùa muộn gieo cấy từ ngày 10/7/2026 và kết thúc trước ngày 20/7/2026. Khuyến cáo nông dân chủ động dự phòng giống lúa ngắn ngày để kịp thời gieo cấy khắc phục trong trường hợp mạ hoặc lúa mới cấy bị thiệt hại do mưa bão, ngập úng.
1. Lượng phân bón
Tùy theo chân đất, trà lúa, giống lúa... để định lượng phân bón cho phù hợp.
- Đối với lúa thuần: Phân chuồng 150-200kg (hoặc 15-20kg phân hữu cơ vi sinh), đạm Urê: 7-8kg, supe lân: 15kg, kali: 5-6kg.
- Đối với lúa lai: Phân chuồng 200-250kg (hoặc 20-25kg phân hữu cơ vi sinh), đạm Urê: 9-10kg, supe lân: 20kg, ka li: 7-8kg.
Có thể dùng phân tổng hợp NPK để bón cho lúa, song phải tính quy đổi ra đạm Urê, supe lân, kali để bón cho phù hợp. Cách quy đổi như sau: 1kg N (đạm nguyên chất) = 2,17kg đạm Urê; 1kg P2O5 (Lân nguyên chất) = 6,06kg supe lân; 1kg K2O (kali nguyên chất) = 1,67kg kali Clorua.
Đối với các giống lúa lai và lúa chất lượng, các giống dễ đổ, dễ nhiễm bệnh cần điều chỉnh lượng đạm Urê cho phù hợp, bón thêm 2 - 3kg kali/sào để nâng cao năng suất, tăng khả năng chống đổ, chống bệnh nhất là bệnh bạc lá và bệnh đốm sọc vi khuẩn.
2. Cách bón phân
Thực hiện bón phân theo phương châm "Bón lót sâu, bón thúc sớm và tập trung". Cần bón phân theo phương pháp “nặng đầu, nhẹ cuối" và bón cân đối Đạm - Lân - Kali.
- Bón lót: Toàn bộ phân chuồng, lân và 30% đạm Urê (bón lót sâu khoảng 3 - 4cm so với mặt ruộng).
- Bón thúc đẻ nhánh: khi lúa bén rễ, hồi xanh: 50-60% đạm Urê + 40-50% Kali (có thể bón 2 lần, cách nhau 5 - 7 ngày và nên kết thúc sau cấy 15 - 20 ngày).
- Bón đón đòng (khi lúa đứng cái): Bón hết lượng phân còn lại; riêng đạm Urê tùy theo điều kiện thời tiết và sinh trưởng của lúa tại thời điểm đó để điều chỉnh bón cho phù hợp.
Lưu ý:
+ Trước khi bón, cần xử lý triệt để bệnh nghẹt rễ, bệnh vàng lá và cỏ dại để giảm sự cạnh tranh dinh dưỡng của lúa.
+ Tăng cường sử dụng phân hữu cơ vi sinh, phân lân để hạ phèn và kích thích bộ rễ phát triển mạnh ngay từ giai đoạn đầu vụ.
+ Không kết hợp bón vôi bột cùng với phân vi sinh.
3. Chế độ nước
Để ruộng lúa đạt năng suất cao, cần thực hiện tưới nước theo phương pháp “nông - lộ - sâu”.
- Giai đoạn tưới “nông”: Ở thời kỳ từ cấy đến lúc đẻ nhánh đạt đủ số dảnh hữu hiệu, nên để mực nước trong ruộng từ 2 - 3cm.
- Giai đoạn “lộ” (tháo cạn nước): Ở thời kỳ từ cuối đẻ nhánh đến trước đứng cái, giai đoạn này nên tháo cạn nước ít nhất từ 7 - 10 ngày.
- Giai đoạn tưới “sâu”: Ở thời kỳ lúa đứng cái đến làm đòng, trỗ bông,... nên để mực nước trong ruộng từ 5 - 6cm.
II. Hướng dẫn phòng trừ sinh vật gây hại đầu vụ
Đầu vụ, người dân cần lưu ý một số đối tượng sinh vật gây hại trên cây lúa, như: cỏ dại, ốc bươu vàng, chuột, bọ trĩ, ruồi đục lá, bệnh nghẹt rễ sinh lý,...
1. Cỏ dại
Thuốc trừ cỏ cho lúa có rất nhiều loại, nhưng tập trung vào 3 nhóm chính như thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm, thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm và hỗn hợp.
- Thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm: có thể sử dụng một số loại thuốc, như: Butan 60EC, Heco 600EC, Taco 600EC, Sirius 10WP, Sunriver 10WP, Acenidax 17WP,... có thể phun hoặc trộn với đất bột, cát để rắc tùy theo loại thuốc.
- Thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm: một số loại thuốc có thể sử dụng, như: Sunrice 15WDG, DuPont Ally 20DF, Alyrice 200WDG,... có thể phun hoặc trộn với đất bột, cát để rắc tùy theo loại thuốc.
- Thuốc trừ cỏ hỗn hợp: có thể sử dụng một số loại thuốc, như: Cow 36WP, Sifata 36WP, Ferim 18.5WP,... có thể phun hoặc trộn với đất bột, cát để rắc tùy theo loại thuốc.
- Chú ý: Giữ nước liên tục trong ruộng 2 - 3cm trong vòng 3 ngày đầu sau khi xử lý thuốc cỏ; Nếu thấy lúa có hiện tượng bị ngộ độc thuốc trừ cỏ cần phải thực hiện các biện pháp như: Tháo cạn nước ruộng, sau đó cho nước vào để thau rửa ruộng từ 2 - 3 lần; Kết hợp bón phân hữu cơ hoai mục và dùng chế phẩm phân bón lá cao cấp để phun như: ET, A2, KH,... Liều lượng và kỹ thuật sử dụng theo hướng dẫn của chuyên môn và trên bao bì.
2. Ốc bươu vàng
- Biện pháp thủ công: Bắt và thu gom ổ trứng bằng tay, bắt vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.
- Biện pháp dẫn dụ sinh học: Dùng một số thức ăn mà ốc ưa thích như: dây lá khoai lang, lá khoai sọ, lá đu đủ, sơ mít thả xuống ruộng để dẫn dụ ốc bám xung quanh. Hoặc thời kỳ ốc sinh sản có thể cắm cọc dọc theo bờ ruộng để thu hút ốc đến đẻ trứng và diệt trừ các ổ trứng.
- Biện pháp hóa học: Phun hoặc rắc thuốc hóa học trên những ruộng có mật độ ốc > 3 con/m2 bằng một số loại thuốc như: Osaka, Cap gold, Pazol, Samole,... Thời gian phun trừ hoặc rắc thuốc từ sau khi cấy đến khi lúa đẻ nhánh, nên sử dụng thuốc vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát vì đây là lúc ốc hoạt động mạnh nhất, cần phải giữ mực nước trong ruộng từ 2 - 3cm để hiệu quả diệt ốc cao nhất.
3. Chuột
Thực hiện tốt công tác diệt chuột theo Kế hoạch số 137/KH-SNNMT ngày 03/12/2025 của Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng. Tuyệt đối không sử dụng điện để diệt chuột bằng mọi hình thức.
4. Bệnh nghẹt rễ
Lúa mùa mới cấy thường bị bệnh nghẹt rễ sinh lý do đất không được cày ải, bệnh không lây lan nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển của cây và làm giảm năng suất nếu không được khắc phục kịp thời. Khi bệnh mới phát sinh ngọn lá úa vàng, đầu lá khô đỏ, trên lá thường xuất hiện những vết đốm màu nâu, biểu hiện trên lá già trước. Bệnh nặng, cây lúa ngừng sinh trưởng, đẻ nhánh kém, bộ rễ thối đen có mùi tanh hôi, ít rễ trắng, ruộng lúa sẽ bị chết từng chòm, có khi chết cả ruộng.
Nguyên nhân: Do đất thiếu oxi, gây tình trạng yếm khí, sản sinh ra các khí độc như: H2S, CH4,... trong quá trình phân giải chất hữu cơ chưa hoai mục, đất ruộng có thành phần cơ giới nặng, đất ngập nước thường xuyên.…
Để xử lý bệnh vàng lá do nghẹt rễ gây ra, tạo điều kiện cho cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, nông dân cần thực hiện một số biện pháp kỹ thuật như sau:
- Khi phát hiện lúa bị vàng lá cần ngừng ngay việc bón phân đạm, phân NPK hoặc các loại phân bón lá.
- Tiến hành tháo nước trong ruộng, bón thêm 10 - 15 kg vôi bột + 10 - 15 kg phân lân/sào kết hợp làm cỏ, sục bùn để giải phóng bớt khí độc trong đất, nhất là vùng rễ cho cây lúa.
- Khi cây đã bén rễ, dần phục hồi trở lại thì cần bổ sung các phân bón qua lá (ET, A2, ...) giúp cây phục hồi nhanh hơn.
5. Bọ trĩ, ruồi đục lá
- Bọ trĩ là đối tượng gây hại cho lúa từ khi lúa mới cấy đến khi lúa đẻ nhánh. Lúa bị hại có hiện tượng lá bị cuốn lại ở chóp, lá héo, tóp lại và khô vàng đi. Đặc biệt nặng ở các ruộng khô nước.
- Ruồi đục lá là đối tượng gây hại cho lúa giai đoạn lúa còn nhỏ. Lúa bị hại có hiện tượng xuất hiện các vết sẹo khuyết màu trắng, nếu bị nặng có thể bị gãy ngang lá lúa.
Biện pháp phòng trừ: bọ trĩ, ruồi đục lá gây hại không quan trọng đến mức làm giảm năng suất lúa, chỉ hạn chế sinh trưởng giai đoạn đầu nên không nhất thiết phải phun thuốc, có thể sử dụng biện pháp quản lý nước thích hợp (duy trì đủ nước, có thể cho ngập cây lúa 1 - 2 ngày). Trong trường hợp bọ trĩ, ruồi đục lá gây hại tỷ lệ cao có thể sử dụng các loại thuốc sinh học có hoạt chất Abamectin, Emamectin, hỗn hợp Abamectin + dầu khoáng nhằm bảo vệ thiên địch, không bùng phát các loại sâu, rầy khác vào các giai đoạn sau của lúa./.