Triển khai Nghị định số 109/2026/NĐCP ngày 01/4/2026 của Chính phủ
Thực hiện Công văn số 1894/STP-BT&HCTP của Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng ngày 29/04/2026 về việc triển khai Nghị định 109/2026/NĐ-CP ngày 01/04/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp; hợp tác xã (sau đây gọi tắt là Nghị định số 109/2026/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 18/05/2026. Ủy ban nhân dân phường yêu cầu các phòng, đơn vị thuộc UBND phường, Công an phường thực hiện một số nội dung sau:
a) Tổ chức quán triệt, phổ biến và triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị định số 109/2026/NĐ-CP
- Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phạm vi quản lý, các phòng, ban, đơn vị và Công an phường kịp thời tổ chức phổ biến, quán triệt đầy đủ các nội dung của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đối tượng thuộc phạm vi quản lý.
- Việc triển khai cần bảo đảm bám sát toàn bộ nội dung của Nghị định, nhất là các quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt và trách nhiệm tổ chức thực hiện trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP.
- Rà soát quy chế nội bộ, quy trình nghiệp vụ, biểu mẫu, sổ sách, cơ chế phối hợp liên ngành để bảo đảm việc phát hiện hành vi vi phạm, lập biên bản, chuyển hồ sơ, xác minh, ban hành quyết định xử phạt và tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, đúng đối tượng, đúng hành vi vi phạm.
- Chủ động cập nhật các nội dung mới của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP vào hoạt động quản lý nhà nước, kiểm tra chuyên ngành, tiếp công dân, giải quyết thủ tục hành chính và hoạt động nghiệp vụ có liên quan; kịp thời chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế phát sinh trong thực tiễn thi hành.
b) Lưu ý các quy định về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính
- Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính: theo quy định tại Điều 83 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP, ngoài những người có thẩm quyền xử phạt quy định tại các Điều 84, 85, 86, 87, 88 và 89 có thẩm quyền lập biên bản thì một số chức danh, lực lượng chuyên môn đang thi hành công vụ, nhiệm vụ cũng có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong phạm vi được giao như: công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch; công chức, viên chức Sở Tư pháp; công chức cơ quan thi hành án dân sự; công chức, viên chức các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp có chức năng quản lý nhà nước, kiểm tra chuyên ngành; công chức Tòa án các cấp; viên chức ngoại giao, lãnh sự; công chức, viên chức quản lý chuyên ngành về giám định tư pháp; viên chức Phòng công chứng; viên chức Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản; công chức, viên chức cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm; viên chức Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; viên chức Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản; chấp hành viên được phân công thi hành quyết định tuyên bố phá sản; người được cử làm người giải quyết bồi thường; Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên là thành viên Đoàn thanh tra. Việc lập biên bản phải đúng phạm vi, hành vi, lĩnh vực, chức năng, nhiệm vụ được giao.
- Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: tại các Điều 84 đến Điều 89 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định, thẩm quyền xử phạt được giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Giám đốc Sở Tư pháp và một số chức danh thuộc các cơ quan quản lý nhà nước, kiểm tra chuyên ngành của Bộ Tư pháp; cơ quan thi hành án dân sự; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; Tòa án nhân dân; Công an nhân dân. Các cơ quan, đơn vị phải đặc biệt lưu ý giới hạn thẩm quyền về mức phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả của từng chức danh để tránh ban hành quyết định không đúng thẩm quyền.
- Về phân định thẩm quyền xử phạt: Điều 90 Nghị định số 109/2026/NĐCP quy định, việc phân định thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào lĩnh vực quản lý, hành vi vi phạm cụ thể và chức danh có thẩm quyền tương ứng. Trường hợp vụ việc có dấu hiệu chồng lấn thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền đang có, cơ quan, người có thẩm quyền đang thụ lý phải chủ động phối hợp xác định cơ quan có thẩm quyền xử phạt; chuyển hồ sơ, tài liệu, tang vật, phương tiện (nếu có) theo quy định; không để kéo dài thời gian, bỏ lọt hành vi vi phạm hoặc xử lý trùng lặp.
c) Trách nhiệm phối hợp của các phòng, ban, cơ quan, đơn vị, công an phường
- Các phòng, ban, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm Nghị định; bố trí đầu mối theo dõi, phối hợp với Văn phòng HĐND và UBND phường trong việc hướng dẫn nghiệp vụ, trao đổi thông tin, rà soát vướng mắc và thống nhất cách xử lý các tình huống phát sinh liên quan đến thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả.
- Các phòng chuyên môn, cơ quan, đơn vị, công chức tư pháp - hộ tịch và lực lượng liên quan tăng cường phát hiện, trường hợp có vi phạm thuộc phạm vi xử lý thì lập biên bản, chuyển hồ sơ, xử phạt vi phạm hành chính đúng thẩm quyền; kịp thời báo cáo UBND phường để tổng hợp báo cáo Sở Tư pháp đối với những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.
- Công an phường chủ động tăng cường phối hợp chặt chẽ với UBND phường (qua Văn phòng HĐND và UBND) trong công tác trao đổi thông tin, xác minh, chuyển giao hồ sơ, xử lý vụ việc, tuyên truyền và phòng ngừa vi phạm; bảo đảm việc áp dụng pháp luật được đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
Trong quá trình phối hợp, các cơ quan, đơn vị cần lưu ý thực hiện nghiêm chế độ bảo mật thông tin, quản lý hồ sơ, tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; thực hiện đầy đủ chế độ thống kê, tổng hợp, báo cáo theo đúng quy định.
(Chi tiết Nghị định 109/2026/NĐ-CP ngày 01/04/2026 của Chính phủ xem TẠI ĐÂY)
Uỷ ban nhân dân phường Trần Nhân Tông đề nghị các phòng, ban, cơ quan, đơn vị liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện./