Tiếng gọi máu đỏ tìm về nguồn cội (Kỳ 1)

I - KHI KIM ĐỒNG HỒ BỊ ĐÓNG BĂNG Ở MÙA XUÂN NĂM 1975.

Nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, dải đất hình chữ S đã hồi sinh kỳ diệu từ đống đổ nát để vươn tầm vị thế toàn cầu. Thế nhưng, bên kia bán cầu, một bộ phận người Việt cực đoan vẫn cố tình giữ kim đồng hồ tư duy đứng im tại mốc năm 1975 với những khẩu hiệu hận thù lạc lõng. Việc sòng phẳng giải mã bối cảnh lịch sử, tháo gỡ “chiếc lò xo” tâm lý hậu chiến là chìa khóa cốt lõi để khép lại quá khứ, mở lối cho tinh thần đại đoàn kết dân tộc hướng về tương lai.

Những tiếng vọng lỗi nhịp từ quá khứ

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Bắc Nam sum họp, non sông nối liền một dải. Năm mươi năm  một khoảng thời gian đủ dài để một đứa trẻ sinh ra trong chiến tranh trở thành bậc tóc bạc, đủ để những vết thương sâu hoắm của bom đạn trên dải đất hình chữ S được hàn gắn và hồi sinh xanh ngắt. Trên khắp mảnh đất Việt Nam, những hố bom xưa giờ đã thành đồng lúa, những ranh giới chia cắt đã nhường chỗ cho những đại lộ thênh thang kết nối thông thương. Đất nước đã đi một chặng đường dài đổi mới, từ một quốc gia kiệt quệ sau chiến tranh vươn lên thành một nền kinh tế năng động, một đối tác có vị thế vững chắc trên trường quốc tế.

Thế nhưng, ở bên kia bán cầu, trong những góc nhỏ của quận Cam hay Little Saigon tại bang California, một nghịch lý nhức nhối vẫn đang tồn tại. Thời gian ở nơi ấy dường như đã bị đóng băng vào đúng cái ngày 30 tháng 4 năm 1975. Khi thế giới đã vận động qua nhiều chu kỳ phát triển, thì ở đây, những tiếng vọng lạc lõng của hận thù, những khẩu hiệu “quốc hận” cũ kỹ vẫn thỉnh thoảng được xới lên bởi một bộ phận người Việt cực đoan. Đó là biểu hiện của một tư duy bảo thủ, cố chấp, cố tình tự xích mình vào quá khứ để khước từ dòng chảy của thời đại.

Hằng năm, khi khúc tráng ca của mùa xuân đại thắng vang lên, lay động hàng triệu trái tim mang dòng máu Lạc Hồng hướng về ngày hội thống nhất, thì ở một góc tối của xã hội hải ngoại, những giai điệu lạc lõng của sự hận thù lại cố tình được xới lên. Trên các diễn đàn số được điều hành bởi những hội nhóm cực đoan như Việt Tân, VOA Tiếng Việt – họ dàn dựng những buổi “tọa đàm trực tuyến”, cố tình khoác lên không gian mạng sắc màu lỗi thời của chiếc áo ba sọc nhằm khơi lại ký ức kết nối các thế hệ sau biến cố 1975. Thực chất, đây chỉ là những sân khấu tinh vi quy tụ các gương mặt chống phá chuyên nghiệp – những người đã tự đóng băng tư duy của mình trong định kiến cũ. Họ mượn không gian mạng để buông lời mỉa mai ngày hội non sông, tìm cách hạ thấp tầm vóc của chính sách đại đoàn kết dân tộc, và nguy hiểm hơn là mưu đồ đánh tráo khái niệm lịch sử. Họ cố tình bóp méo cuộc kháng chiến trường kỳ, chính nghĩa giành độc lập, tự do của cả một dân tộc thành một cuộc xung đột phe phái nội bộ, nhằm mục đích khoét sâu rạn nứt và phủ nhận giá trị thiêng liêng của nền hòa bình mà nhân dân Việt Nam đang thụ hưởng.

Sự xuyên tạc độc hại còn đẩy lên đỉnh điểm khi các hội nhóm này cố tình bấu víu, trục lợi thông tin từ các đại án kinh tế hay các vụ việc sai phạm đang trong quá trình thanh tra, xử lý trong nước. Điển hình như khi các cơ quan tố tụng trung ương tiến hành khởi tố, điều tra các hành vi vi phạm pháp luật tại một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn nhằm làm trong sạch môi trường đầu tư và bảo vệ lợi ích công cộng, các đối tượng phản động lập tức sử dụng bộ máy truyền thông hải ngoại để bóp méo bản chất. Họ quy chụp những quyết định tư pháp nghiêm minh đó là “sự bất ổn thể chế” hay “thanh trừng nội bộ”, hòng bôi lem những nỗ lực làm lành mạnh hóa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời làm suy giảm niềm tin của kiều bào đối với hệ thống pháp luật nước nhà.

Sự níu kéo vô vọng của những phần tử cực đoan hải ngoại không còn dừng lại ở những buổi tuần hành thưa vắng trên đường phố, mà đã biến tướng thành các thủ đoạn len lỏi vào môi trường giáo dục và diễn đàn quốc tế hòng tìm kiếm điểm tựa pháp lý. 

Nhóm đối tượng mang tư tưởng lệch lạc yêu cầu Ban Giám Hiệu Trường Tiểu học Harbour View thuộc thành phố Huntington Beach, khu vực Nam California, Hoa Kỳ hạ lá cờ Việt Nam xuống để thay thế bằng biểu tượng của chế độ cũ.

Đầu năm 2026, nhóm đối tượng này đã thực hiện hành vi lôi kéo lực lượng, kéo đến một số trường tiểu học tại khu vực Nam California, dùng áp lực chính trị cục bộ để yêu cầu ban giám hiệu hạ quốc kỳ Việt Nam đang treo chính thức và đòi thay thế bằng biểu tượng của chế độ cũ. Chưa dừng lại ở đó, đỉnh điểm của mưu đồ trục lợi chính trị diễn ra vào giữa năm 2026, khi các thế lực thù địch ra sức chầu chực, bấu víu vào việc Nghị viện châu Âu thông qua “Nghị quyết về chống đàn áp xuyên quốc gia (TNR)”. Ngay lập tức, họ biến văn kiện thiếu khách quan này thành công cụ truyền thông, rầm rộ tung hô đây là “bước ngoặt pháp lý bảo vệ nhân quyền”, đồng thời tiến hành lập ra cái gọi là “Ủy ban vận động lâm thời Hội đồng quốc dân Việt Nam”. Đây là một thủ đoạn lập tổ chức phản động mới hòng âm mưu tạo thế đối trọng với Đảng và Nhà nước, kích động chia rẽ sâu sắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để phục vụ cho toan tính đen tối này, chúng tích cực sản xuất các video clip xuyên tạc phát tán lên các nền tảng mạng xã hội. Đứng trước máy quay, tay cầm cờ cũ, các đối tượng buông lời kích động trực diện vào giới trẻ gốc Việt sinh ra ở hải ngoại: “Hỡi các bạn trẻ mang trong mình dòng máu Việt... chúng tôi lớn lên trong đất nước không tự do... một chế độ ngoại lai đã cưỡng chiếm miền Nam”. Họ đổi trắng thay đen khi lu loa chính quyền trong nước “không mang lại sự hòa hợp dân tộc mà phát động các cuộc trả thù tàn bạo”, “áp đặt xã hội dưới chế độ độc tài”. Mục đích của hành vi này là bóp méo sự thật và tác động nhận thức của thế hệ tương lai, biến giới trẻ thành công cụ nối dài cho sự thù hằn và phục vụ cho các chiến dịch quyên góp tài chính bất hợp pháp tại hải ngoại.

Tuy nhiên, thực tế xã hội luôn mang lại một bài học đắt giá về quy luật đào thải. Bất chấp các chiêu trò thổi phồng thông tin trên mạng xã hội, các hoạt động phá hoại này ngày càng rơi vào cảnh cô độc, nguội lạnh và trơ trọi. Việc các tổ chức phản động phải chật vật dàn dựng hình ảnh, lôi kéo cả người già lẫn trẻ nhỏ tham gia chụp ảnh báo cáo đã vô tình phơi bày sự suy kiệt về tầm ảnh hưởng. Đại đa số kiều bào tiến bộ và tầng lớp trí thức trẻ hải ngoại đã rút ra bài học sâu sắc, nhận diện rõ bản chất trục lợi của các phần tử cực đoan và lựa chọn hướng về Tổ quốc. Sự thất bại này bộc lộ một chân lý mang tính quy luật: “Số người bị dụ dỗ, kích động chống phá tại hải ngoại đang ngày càng thưa vắng và bị chính cộng đồng kiều bào tiến bộ đào thải”. Những màn kịch lỗi thời mượn danh nghị quyết quốc tế thực chất chỉ là tiếng thở dài bất lực của những tư duy bảo thủ đang tự đẩy mình vào ngõ cụt của lịch sử.

Tháo gỡ chiếc lò xo tâm lý nơi hậu chiến

Để lý giải một hiện tượng lịch sử một cách khách quan, không thể chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng rồi quay ngược thời gian để phán xét. Lịch sử luôn vận động trong những điều kiện cụ thể, và mỗi lựa chọn của con người đều chịu sự chi phối của hoàn cảnh mà họ đang sống. Bởi vậy, khi nhìn lại làn sóng người Việt di cư sang Hoa Kỳ sau năm 1975, điều cần thiết trước hết không phải là vội vàng gắn cho nó một nhãn hiệu chính trị, mà phải đặt hiện tượng ấy vào đúng tọa độ của thời gian, trong sự đan xen của chiến tranh vừa kết thúc, những biến động chính trị, khủng hoảng kinh tế, tâm lý xã hội và cả những tác động của môi trường quốc tế lúc bấy giờ. Chỉ khi đặt con người trở lại trong hoàn cảnh lịch sử mà họ đã sống, chúng ta mới có thể hiểu được vì sao những cuộc ra đi ấy đã diễn ra và vì sao chúng mang nhiều hình thái, nhiều động cơ khác nhau đến vậy.

Năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, nhưng hòa bình không đồng nghĩa với việc mọi bất ổn lập tức biến mất. Việt Nam bước ra khỏi một cuộc chiến tranh kéo dài với những tổn thất đặc biệt lớn về con người và cơ sở vật chất; nền kinh tế kiệt quệ, sản xuất đình đốn, đời sống nhân dân còn vô cùng khó khăn. Trong khi đó, những tác động của Chiến tranh Lạnh vẫn bao trùm quan hệ quốc tế; Việt Nam phải đối mặt với bao vây, cấm vận, những cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới và hàng loạt khó khăn từ thiên tai đến thiếu hụt nguồn lực. Đó là một hoàn cảnh mà nếu chỉ nhìn bằng nhãn quan của ngày hôm nay, người ta rất dễ bỏ qua sức nặng khủng khiếp mà một xã hội vừa bước ra khỏi chiến tranh phải gánh chịu.

Làn sóng di tản đầu tiên diễn ra trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975, khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Hàng vạn người được sơ tán, trong đó có những người từng làm việc cho chính quyền và quân đội cũ cùng thân nhân của họ. Đối với nhiều người trong số ấy, sự ra đi gắn với tâm lý bất an trước một trật tự chính trị hoàn toàn mới. Những lời cảnh báo về khả năng trả thù, đàn áp sau khi chiến tranh kết thúc đã tạo ra nỗi sợ hãi rất lớn trong một bộ phận dân chúng. Có những nỗi sợ xuất phát từ thông tin bị thổi phồng, có những lo lắng bắt nguồn từ kinh nghiệm chiến tranh và cũng có những người lựa chọn ra đi đơn giản vì họ không thể hình dung được cuộc sống của mình sẽ như thế nào dưới một chính quyền mới. Trong những thời khắc lịch sử mà tương lai trở nên mù mịt, con người thường lựa chọn điều mà họ cho là ít rủi ro nhất đối với bản thân và gia đình. 

Nhưng lịch sử di cư của người Việt không dừng lại ở những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Những năm cuối thập niên 1970 và trong suốt thập niên 1980, một làn sóng di cư mới diễn ra với quy mô lớn, thường được biết đến qua hình ảnh “thuyền nhân”. Đây là một trong những chương đau xót nhất của lịch sử hậu chiến Việt Nam và cũng là vấn đề cần được nhìn nhận bằng thái độ thẳng thắn. Không thể phủ nhận rằng trong những năm đầu sau thống nhất, đời sống kinh tế vô cùng khó khăn; cơ chế quản lý tập trung, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế; sản xuất thiếu hụt, lạm phát, đời sống nhân dân chật vật. Những khó khăn ấy lại diễn ra trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với thiên tai, chiến tranh biên giới và sự bao vây, cấm vận từ bên ngoài. Với một bộ phận người dân, đặc biệt những người từng thuộc về chế độ cũ hoặc có thân nhân ở nước ngoài, những bất an về tương lai chính trị kết hợp với sức ép kinh tế và sức hút từ cuộc sống ở các quốc gia phát triển đã tạo nên động lực mạnh mẽ để họ tìm cách ra đi.

Ở đây, điều cần tránh là cách giải thích giản đơn: “Tất cả những người rời Việt Nam đều ra đi vì một lý do giống nhau. Con người không phải những con số được xếp thành một khối đồng nhất. Có người ra đi vì lý do chính trị, có người vì kinh tế, có người vì đoàn tụ gia đình, có người tìm kiếm cơ hội học tập và việc làm, có người bị thúc đẩy bởi tâm lý bất an, cũng có người chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố”. Một hiện tượng xã hội lớn như di cư không thể được giải thích bằng một nguyên nhân duy nhất. Chính sự đan xen ấy mới làm nên diện mạo phức tạp của lịch sử người Việt rời quê hương sau năm 1975.

Cũng cần thừa nhận một cách cầu thị trong những năm đầu sau thống nhất, chủ trương hòa hợp dân tộc dù đã được đặt ra nhưng quá trình thực hiện còn có những hạn chế nhất định. Tâm lý của người thắng trận và người thất trận chưa thể lập tức biến mất sau một ngày chiến tranh kết thúc. Những mặc cảm, nghi kỵ và khoảng cách tâm lý được hình thành qua nhiều năm đối đầu không thể được xóa bỏ chỉ bằng những tuyên bố chính trị. Đối với một bộ phận người từng làm việc cho chế độ cũ, cảm giác mất vị trí, bất định về tương lai và tâm lý “bên thua cuộc” là những yếu tố có thật cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Đồng thời, mạng lưới thân nhân ở nước ngoài, những lời vận động, những cơ hội đoàn tụ và sự khác biệt về điều kiện sống cũng tạo thêm lực hút đối với người muốn rời đi. Nhìn nhận những yếu tố ấy không phải là phủ nhận những thành quả của ngày thống nhất, càng không phải là tự phủ nhận mình. Trái lại, đó là biểu hiện của một thái độ trưởng thành trước lịch sử – dám nhìn vào cả những điều chưa làm được để hiểu vì sao quá khứ đã diễn ra như nó đã diễn ra.

Một số tiếng nói cực đoan và các thế lực chống phá Nhà nước thường khai thác những câu chuyện di cư, đặc biệt là ký ức của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, để dựng nên một cách giải thích đơn tuyến: “Lấy những đau thương có thật của một bộ phận người dân làm bằng chứng phủ nhận toàn bộ tiến trình lịch sử; lấy những khó khăn của những năm đầu hậu chiến để phủ nhận những thay đổi của đất nước trong nửa thế kỷ tiếp theo; lấy những hạn chế có thật để đi tới một kết luận tuyệt đối rằng mọi thành tựu của Việt Nam hiện nay đều không có giá trị”. Đây là một kiểu lập luận cần được nhận diện bằng lý trí, bởi nó không phủ nhận một sự kiện cụ thể mà tìm cách phủ nhận cả quá trình vận động của lịch sử.

Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 là một minh chứng rõ ràng cho khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh của đất nước. Từ một nền kinh tế gặp nhiều khủng hoảng, Việt Nam từng bước thay đổi mô hình phát triển, mở cửa nền kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập sâu hơn với thế giới. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, từ hai phía từng đối đầu trong chiến tranh, đã đi từ bình thường hóa năm 1995 đến Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2023. Một quan hệ từng được định hình bởi đối đầu đã có thể chuyển hóa thành hợp tác. 

Điều quan trọng hơn là hiểu được những điều kiện lịch sử đã tạo nên chúng, thấu hiểu những số phận đã đi qua biến động và đồng thời nhận ra thời gian đã làm thay đổi rất nhiều điều. Những người rời Việt Nam năm xưa mang theo những ký ức khác nhau; cộng đồng người Việt ở nước ngoài hôm nay cũng có những quan điểm, trải nghiệm và căn tính đa dạng. Không thể bắt mọi người phải có cùng một ký ức về quá khứ. Nhưng càng không nên biến sự khác biệt trong ký ức thành lý do để các thế hệ hôm nay tiếp tục đối đầu.

Một dân tộc trưởng thành không phải là dân tộc không có những ký ức khác nhau, mà là dân tộc biết đặt những ký ức ấy trong một lợi ích chung lớn hơn. Nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, câu hỏi có ý nghĩa hơn không còn là “ai đã đứng ở phía nào của ngày hôm qua?”, mà là “ngày hôm nay, chúng ta có thể cùng đứng ở đâu trước tương lai của đất nước?” Nếu lịch sử từng tạo ra những đường ranh giữa người Việt, thì chính lịch sử cũng cho chúng ta bài học về những đường ranh ấy không nhất thiết phải tồn tại mãi mãi.

Tôi nghĩ rằng, nhìn nhận quá khứ một cách công bằng không phải để mở lại những chiến tuyến đã khép, mà để hiểu vì sao chúng từng tồn tại và làm thế nào để không dựng lên những chiến tuyến mới. Tôn trọng những ký ức khác nhau không đồng nghĩa với chấp nhận sự xuyên tạc lịch sử; thừa nhận những hạn chế của quá khứ không đồng nghĩa với phủ nhận hiện tại; và đấu tranh với những luận điệu cố tình khoét sâu chia rẽ cũng không có nghĩa là phủ nhận quyền của mỗi người được có ký ức và quan điểm riêng!

Sau cùng, điều đáng để một dân tộc mang theo từ một cuộc chiến không phải là chiến thắng để mãi tự hào hay thất bại để mãi oán hận, mà là bài học về cái giá của chia cắt và giá trị của hòa bình

Đừng để hận thù làm xiềng xích tương lai

Sự hận thù, nếu diễn ra vào những thập niên trước, khi cát bụi chiến trường chưa kịp lắng xuống, vết thương cắt chia còn rớm máu và trạng thái xung đột tâm lý hậu chiến còn đè nặng, thì phần nào đó vẫn có thể lý giải bằng những xáo trộn cay đắng của dòng đời. Thế nhưng, thời gian là dòng chảy không bao giờ ngoảnh lại. Đến hôm nay, lịch sử đã sang trang bằng một tâm thế hoàn toàn mới trong dòng chủ lưu của xu thế hội nhập toàn cầu. Sau nửa thế kỷ, mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ – từ hai phía đối đầu sinh tử nơi chiến tuyến; đã viết nên một kỳ tích ngoại giao khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1995 và vươn tới nấc thang cao nhất: Đối tác Chiến lược Toàn diện. Khép lại quá khứ đau thương, hai quốc gia từng là cựu thù giờ đây đang siết chặt tay nhau, cùng hợp tác vì hòa bình, thịnh vượng và lợi ích cốt lõi của nhân dân hai nước.

Từ những ngày đầu đặt chân đến xứ người với muôn vàn bỡ ngỡ, cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ đến nay đã lớn mạnh vượt bậc với hơn 2,4 triệu người, khẳng định vị thế và đóng góp không nhỏ vào dòng chảy kinh tế, văn hóa bản địa. Năm mươi năm, một nửa thế kỷ là khoảng thời gian đủ để nuôi dưỡng hai thế hệ mới được sinh ra, lớn lên và trưởng thành hoàn toàn trong bầu không khí hòa bình. Những người trẻ ấy sở hữu tri thức hiện đại, tư duy khoáng đạt của thế giới phẳng và có đầy đủ điều kiện để tự mình kiểm chứng những đổi thay kỳ diệu của quê hương, từ đó biết trân trọng lịch sử và tự định hình trách nhiệm với tương lai.

Một đời người có bao nhiêu lần năm mươi năm? Cố chấp ôm giữ một định kiến, nuôi nấng một khối hận thù suốt nửa thế kỷ không chỉ là sự lãng phí cuộc đời mà còn là hành vi tự đóng băng tư duy, tự giam lỏng tâm hồn mình trong ngục tối của quá khứ. Tệ hại hơn, một bộ phận người Việt cực đoan vì những mưu đồ ích kỷ vẫn cố tình tiêm nhiễm những tư tưởng độc hại, méo mó ấy vào tâm trí thế hệ con cháu – những đứa trẻ sinh ra ở hải ngoại, chưa một ngày nghe tiếng bom rơi đạn lạc, chưa từng nếm trải nỗi đau thắt lòng của ngày chia cắt. Việc ép buộc thế hệ tương lai phải gánh bản án hận thù mà chúng không hề vay mượn, bắt chúng phải nhìn quê hương bằng ánh mắt oán hận của thế hệ đi trước chính là một tội ác đối với quyền được bao dung và khát vọng hướng cội của giới trẻ.

Bản chất cuộc chiến Vệ quốc vĩ đại và chính nghĩa của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là một chân lý lịch sử vĩnh viễn không thể đảo ngược hay bẻ cong bằng những luận điệu xuyên tạc. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc, với tư tưởng cốt lõi lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm mẫu số chung, luôn là nguồn sức mạnh nội sinh vô địch để đất nước vượt qua mọi thác ghềnh. Khi lăng kính định kiến không được chủ động tháo bỏ để nhìn nhận bằng sự khách quan, thiện chí, những con người cố chấp ấy sẽ mãi mãi là những kẻ lưu vong ngay trong chính tư duy của mình, tự bẻ gãy sợi dây liên kết với nguồn cội và khước từ một Việt Nam thanh bình, ổn định đang ngày càng vươn mình mạnh mẽ. Đúng như tầm vóc tư tưởng mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã từng khẳng định: “Chúng ta không thể viết lại lịch sử, nhưng chúng ta có thể hoạch định lại tương lai. Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển”./.

Tác giả: Đồng Bá Đoàn

Phường Trần Nhân Tông
QR Code
image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0