Tiếng gọi máu đỏ tìm về nguồn cội (Kỳ 3)

III –  LỜI HIỆU TRIỆU NON SÔNG TIẾN TỚI KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH DÂN TỘC 

Nửa thế kỷ sau ngày non sông liền một dải, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Khát vọng phồn vinh không có chỗ cho những định kiến lỗi thời, bởi tương lai được xây dựng bằng nội lực của khối đại đoàn kết, nơi kiều hối và chất xám của đồng bào hải ngoại hòa cùng một dòng chảy. Đối diện với bài toán lịch sử, thế hệ sinh sau chiến tranh mang trọng trách gỡ bỏ lăng kính cũ, dùng tư duy thời đại phẳng để bắc những nhịp cầu thực chất đưa con tàu Tổ quốc phăng phăng rẽ sóng ra khơi.

Khối 54 Dân tộc sải bước với những trang phục truyền thống sắc màu rực rỡ đại diện Khối Đại Đoàn kết dân tộc cùng nhau hướng về Tổ quốc. Hội tụ niềm tự hào non sôngViệt Nam

Khi nhìn về chặng đường phát triển sắp tới, điều cốt lõi nhất không phải là việc chúng ta nhìn lại quá khứ xa xôi để hoài niệm hay tìm kiếm những vết nứt chia cắt cũ, mà là cách toàn dân tộc cùng định hình tầm nhìn chiến lược, tạo lực đẩy đồng bộ cho đất nước bước vào những nấc thang vươn mình mới. Khát vọng phồn vinh của quốc gia lúc này không thể chỉ là mong muốn đơn phương của một phía, mà đòi hỏi một sự cộng hưởng sâu sắc từ tư duy, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước cho đến hành động thực tiễn của mỗi người con đất Việt, bất kể họ đang sinh sống ở trong nước hay đang bôn ba nơi hải ngoại.

Đứng trước bước ngoặt nửa thế kỷ thống nhất, dòng chảy thời đại phẳng và xu thế hội nhập toàn cầu đã mang lại cho chúng ta một tâm thế hoàn toàn khác: tâm thế của một dân tộc tự chủ, tự cường, dám đối diện thẳng thắn với các tồn tại của lịch sử để quy tụ mọi nguồn lực cho tương lai. Sự hòa hợp dân tộc thực chất giờ đây đã vượt qua khỏi những tranh luận lý thuyết cũ kỹ, trở thành một nhu cầu nội sinh tất yếu để tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia, giúp con thuyền Việt Nam vững vàng rẽ sóng ra biển lớn. Chính từ nhãn quan đổi mới, mang tính thời đại và thấm đẫm tinh thần đại đoàn kết sâu sắc đó, câu chuyện kiến tạo tương lai sẽ được làm sáng tỏ qua các luận điểm lớn sau:

Thứ nhất, lời khẳng định mang tầm vóc chiến lược vĩ mô của Tổng Bí thư Tô Lâm trong bài viết “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” xuất bản nhân cột mốc nửa thế kỷ thống nhất đất nước chính là chiếc kim chỉ nam định hình tư duy cho toàn xã hội. “Chúng ta không thể viết lại lịch sử, nhưng chúng ta có thể hoạch định lại tương lai. Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển”. Đây chính là lời tuyên ngôn đanh thép, mở ra một chương mới đầy khát vọng cho tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng.

Thứ hai, cần phải thẳng thắn, quyết liệt bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, đầy rẫy sự hoài nghi của các thế lực cực đoan hải ngoại khi họ cố tình hạ thấp giá trị chủ trương của ta, lu loa rằng chính sách hòa hợp dân tộc chỉ là một thủ đoạn chính trị hay biện pháp mị dân nhất thời nhằm trục lợi kinh tế. Nhìn lại hành trình lịch sử, kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2004 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán, trước sau như một, coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận cốt nhục, không thể tách rời và là một nguồn lực vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hòa hợp dân tộc trong xu thế mới tuyệt đối không phải là sự thỏa hiệp vô nguyên tắc, mà là sự chấp nhận, tôn trọng những góc nhìn, những điểm khác biệt khác nhau trong tinh thần bao dung, hòa hiếu, miễn là tất cả cùng hướng tới mẫu số chung lớn nhất là một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, hùng mạnh và thịnh vượng. Chính vì vậy, những yêu sách lạc lõng, cực đoan từ các hội nhóm bảo thủ đòi hỏi Đảng Cộng sản phải từ bỏ vai trò lãnh đạo, đòi đa nguyên đa đảng mới chịu ngồi vào bàn hòa hợp thực chất chỉ là âm mưu mượn danh nghĩa hòa giải để chống phá chế độ, đi ngược lại lợi ích tối cao và quyền sống trong ổn định của toàn thể nhân dân.

Thứ ba, khát vọng cống hiến, hướng về nguồn cội của kiều bào không còn là những khái niệm trừu tượng, mà được minh chứng sinh động bằng những nguồn lực vật chất và trí tuệ khổng lồ đang đổ về đất mẹ. Trải qua hơn hai thập kỷ kiên trì thực hiện các chủ trương đại đoàn kết, dòng kiều hối đổ về quê hương đã có một cuộc dịch chuyển mang tính bước ngoặt về bản chất là từ mục đích tiêu dùng, cứu trợ thân nhân đơn thuần sang đầu tư trực tiếp vào các ngành sản xuất kinh doanh, hạ tầng công nghệ và các dự án an sinh xã hội. Tính đến nay, tổng lượng kiều hối tích lũy đổ về nước đã vượt qua mốc hàng trăm tỷ USD, tạo nên một nguồn vốn nội sinh mạnh mẽ tương đương với nguồn vốn FDI đã giải ngân trong cùng thời kỳ. Bên cạnh dòng chảy tài chính, chất xám của các trí thức trẻ, tiềm lực vĩ mô của các doanh nhân thành đạt ở hải ngoại đang hòa quyện sâu sắc vào các ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và kinh tế xanh. Họ không còn đứng ở vị thế của những người quan sát bên lề lịch sử, mà đã thực sự trở thành những chủ thể kiến tạo, những người đồng hành trực tiếp vẽ nên diện mạo mới cho nền kinh tế Việt Nam tự chủ, bởi vì giọt máu đào hơn ao nước lã, sợi dây huyết thống thiêng liêng luôn có sức vẫy gọi vô hình, thúc giục những người con xa xứ mang tri thức từ biển lớn về làm giàu cho mảnh đất quê hương.

Thứ tư, trong tâm thế của một quốc gia tự chủ, chúng ta thẳng thắn phản bác luận điệu sai lệch cho rằng việc tổ chức kỷ niệm ngày đại lễ 30/4 là khoét sâu hận thù hay ăn mừng trên nỗi đau của người khác. Đó là sự xuyên tạc ích kỷ của những tư duy bị đóng băng. Việc tổ chức mít tinh, diễu binh, diễu hành chính là dịp thiêng liêng để toàn dân tộc tri ân xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã ngã xuống để đổi lấy nền độc lập, hòa bình trọn vẹn, đồng thời là lời nhắc nhở nghiêm khắc cho các thế hệ mai sau về cái giá vô giá của sự thống nhất. Câu chuyện về người phụ nữ Việt Nam từng sống tại Hàn Quốc kể về người lãnh đạo công ty nước bạn luôn đau đáu một niềm ước ao giá như Hàn Quốc có được một vị lãnh tụ vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh để hai miền Triều Tiên được đoàn tụ, để người thân không phải chịu cảnh chia cắt đau đớn, chính là một minh chứng lay động lòng người. Câu chuyện ấy nhắc nhở chúng ta nhận thức về sự thống nhất giang sơn là niềm thèm khát, là hạnh phúc tối thượng mà không phải dân tộc nào trên thế giới cũng có được. Để tinh thần ấy tiếp tục lan tỏa sâu rộng, các cơ quan chức năng trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện, đổi mới hành lang pháp lý, tạo điều kiện thông thoáng hơn nữa về thủ tục visa, quyền sở hữu bất động sản và các chính sách thu hút đầu tư cho kiều bào, bởi vì bầu ơi thương lấy bí cùng, người trong một nước phải thương nhau cùng.

Thứ năm, đối diện với câu hỏi lớn của thời đại. Chúng tôi – những người sinh sau ngày 30/4/1975, trưởng thành trong hòa bình thì làm sao thấu hiểu được hết sự khốc liệt của chiến tranh, sự đau đớn của chia cắt và tình cảnh ngặt nghèo của người ở hai bên chiến tuyến để viết về hòa hợp? Đây là một trăn trở thực tế nhưng cũng chính là điểm tựa để khẳng định bản lĩnh của thế hệ hôm nay. Không trực tiếp chứng kiến bom rơi đạn lạc không có nghĩa là tách rời lịch sử. Ngược lại, việc được nuôi dưỡng trong một xã hội hòa bình, được tiếp cận với tư duy mở của thế giới phẳng mang lại cho người cầm bút một lợi thế vô giá là sự khách quan, tỉnh táo và một nhãn quan bao dung không bị ràng buộc bởi những tổn thương trực tiếp của quá khứ. Thế hệ sinh sau chiến tranh không nhìn lịch sử bằng sự oán hận, mà nhìn bằng lòng tri ân và sự thấu hiểu khoa học. Khi đọc lại những trang sử cũ, họ không tìm kiếm lý do để phân định thắng thua, mà tìm kiếm bài học để xây dựng tương lai. Họ thấu cảm nỗi đau chia cắt của cha ông không phải bằng sự cay cú phe phái, mà bằng sự trắc ẩn của tình đồng bào ruột thịt, thấu hiểu rằng mọi bi kịch hậu chiến đều là hệ quả khách quan của quy luật lịch sử.

Thứ sáu, chính tâm thế trung dung, lành mạnh đó là bệ đỡ vững chắc nhất để những người trẻ dũng cảm đứng ra làm người trung gian bắc nhịp cầu hòa giải. Họ dùng ngôn ngữ của thời đại mới là ngôn ngữ của sự phát triển, của công nghệ, của khát vọng hùng cường để đối thoại với kiều bào hải ngoại, chứng minh cho thế giới thấy rằng người Việt Nam hôm nay đang cùng nhìn về một hướng. Bản lĩnh của thế hệ đi sau không nằm ở việc lặp lại những tranh luận cũ, mà nằm ở hành động kiến tạo nhằm tháo dỡ những hàng rào định kiến còn sót lại, mở rộng vòng tay đón nhận mọi nguồn lực hướng thiện, và cùng chung tay đưa dải đất hình chữ S kiêu hãnh vươn tầm thế giới. Đúng như lời răn dạy thâm trầm và nghiêm khắc của cha ông ta là gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau, hồi chuông cảnh tỉnh này nhắc nhở rằng mọi sự xung đột, oán hận hay khác biệt trong quá khứ chỉ là những vết xước tạm thời của lịch sử, còn tình cốt nhục đồng bào mới là giá trị trường tồn bất biến.

Khép lại những trang sử cũ ngập tràn dâu bể nhưng cũng đầy ắp vinh quang, đất nước đang đứng trước ngưỡng cửa thiêng liêng của một thời kỳ lịch sử mới. Con đường phía trước có thể còn nhiều thách thức, nhưng khi muôn triệu trái tim mang dòng máu Lạc Hồng cùng chung một nhịp đập, cùng gạt bỏ những lăng kính tối màu của quá khứ để nhìn về một hướng, thì không một thế lực nào có thể cản bước dân tộc Việt Nam vươn tầm thế giới. Non sông liền một dải là chân lý lịch sử không thể đảo ngược, và lòng dân hòa quyện chính là bức tường thành vĩ đại nhất để bảo vệ nền độc lập, thái bình vĩnh cửu của giang sơn. Bước qua chặng đường năm mươi năm ngẩng đầu tự hào, tiếng gọi đồng bào lại một lần nữa trở thành điểm tựa thiêng liêng, là nguồn sức mạnh vô địch đưa dải đất hình chữ S phăng phăng tiến bước trong kỷ nguyên vươn mình, kiến tạo một tương lai hùng cường, thịnh vượng và rực rỡ gấm hoa./.

Tác giả: Đồng Bá Đoàn

Phường Trần Nhân Tông
QR Code
image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0