Tiếng gọi máu đỏ tìm về nguồn cội (Kỳ 2)

II –  CHỮ “TÂM” BẮC NHỊP CẦU HÒA HỢP

Tiến trình hòa hợp dân tộc của Việt Nam không phải là những khẩu hiệu khô khan trên văn bản hành chính, mà được viết nên bằng chính hành trình thức tỉnh đầy giông bão của những người từng đứng ở phía bên kia chiến tuyến. Khi định kiến được cởi trói bằng chữ “Tâm” và sự chân thành từ đường lối chiến lược của Đảng, Nhà nước, những người từng quay lưng với đất mẹ đã tìm thấy con đường trở về trong bình yên. Chính sách nhân văn mở đường của lòng nhân ái đã bắc những nhịp cầu vững chãi, quy tụ muôn triệu trái tim kiều bào hướng về Tổ quốc... 

Khi chính sách mở đường, lòng người tìm được điểm gặp

Hòa hợp dân tộc trước hết phải bắt đầu từ một nhận thức nhân văn, khoa học và đúng đắn về giá trị của con người. Không thể lấy một lựa chọn sai lầm, một ngã rẽ bắt buộc trong bão táp quá khứ để định nghĩa vĩnh viễn giá trị của một con người trong hiện tại; càng không thể để những sự khác biệt về quan điểm chính trị trở thành bức tường kiên cố ngăn cách những người cùng chung dòng máu Lạc Hồng. Một dân tộc đã kiên cường vươn lên từ tro tàn của chiến tranh, chịu nhiều mất mát đau thương để đổi lấy hòa bình. Độc lập, tự do, đất nước thống nhất càng cần một thế giới quan đủ bao dung, một nhãn quan chính trị đủ rộng lớn để phân biệt rõ ràng: “Đâu là những hành vi cực đoan, chống phá đi ngược lại lợi ích quốc gia cần kiên quyết đấu tranh, đâu là những con người lầm lạc nhưng mang thiện chí có thể đối thoại; đâu là sự khác biệt chính kiến nhất thời, và đâu là bản chất cốt lõi của lòng yêu nước”!

Trong mạch nguồn tư tưởng vĩ đại đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị đã tạo nên một dấu mốc lịch sử, mang tính bước ngoặt định hình dòng chảy đại đoàn kết khi khẳng định mạnh mẽ - Người Việt Nam ở nước ngoài là “bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Sứ mệnh cốt lõi của văn kiện chiến lược này đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chủ động xóa bỏ hoàn toàn những mặc cảm, định kiến, sự phân biệt đối xử do hoàn cảnh quá khứ hoặc thành phần giai cấp để lại. Từ đó xây dựng nền tảng vững chắc cho tinh thần cởi mở, tôn trọng, hòa bình, nhân ái, tin cậy lẫn nhau, cùng chung tay hướng tới tương lai phồn vinh của Tổ quốc.

Đằng sau sự thay đổi mang tính lịch sử trong từng câu chữ của nghị quyết chính là một cuộc cách mạng sâu sắc trong tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước. Nếu mãi nhìn cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài qua chiếc lăng kính chật hẹp của lịch sử đối đầu hậu chiến, chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy những rạn nứt và khoảng cách. Nhưng khi đặt đồng bào hải ngoại trong chỉnh thể thống nhất của lợi ích quốc gia – dân tộc, điều hiện hữu trước mắt không còn là sự chia rẽ, mà là một nguồn lực khổng lồ về tri thức đỉnh cao, nguồn vốn dồi dào, công nghệ tiên tiến, mạng lưới quan hệ quốc tế sâu rộng và đặc biệt là tình cảm sắt son, hướng về nguồn cội của những người con xa xứ. Chính vì vậy, hòa hợp dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng giờ đây không còn đơn thuần là câu chuyện giải quyết những vết thương, tồn tại của quá khứ; sâu xa và vĩ mô hơn, đó chính là bài toán chiến lược về tập hợp, khơi thông mọi nguồn lực vĩ đại để kiến tạo tương lai hùng cường cho đất nước.

Khúc quanh cuộc đời của một người từng lầm đường lạc lối

Để hiểu được sức mạnh chuyển dịch mạnh mẽ của hệ tư tưởng khi chạm vào chữ “Tâm” của chính sách nhân đạo, cần nhìn vào câu chuyện thực tế mang tính điển hình của Luật sư Hoàng Duy Hùng – một người Mỹ gốc Việt. Ông không phải là một kiều bào bình thường mang mặc cảm chính trị, mà từng là thành viên cốt cán, là hạt nhân cực đoan của tổ chức phản động hải ngoại, mang trong mình tư tưởng chống phá Nhà nước quyết liệt và cực kỳ sâu sắc. Lịch sử cá nhân của ông ghi dấu những cột mốc đen tối: “bí mật xâm nhập về Việt Nam hoạt động phá hoại vào năm 1992, bị bắt giam rồi được Nhà nước khoan hồng trục xuất”. Chưa dừng lại ở đó, sự ngoan cố tiếp tục đẩy ông vào những sai lầm nghiêm trọng hơn khi “vào năm 2001, ông lại tìm cách len lỏi về nước với mưu đồ đặt bom khủng bố hòng phá hoại sự bình yên của nhân dân”. Một lý lịch dày đặc sự hận thù, cực đoan và hành động nguy hiểm như thế, tưởng chừng như đã đóng đinh số phận và tư duy của một con người, không có bất kỳ một thế lực hay lý luận nào có thể lay chuyển nổi.

Luật sư Hoàng Duy Hùng sau khi về Việt Nam đã đi đến Lào Cai thăm cột cờ Lũng Pô, huyện biên giới Bát Xát, Lào Cai. Nơi  đây ông cũng làm video tại Cột cờ Lũng Pô – cột mốc đánh dấu chủ quyền biên giới quốc gia nơi vùng đất in đậm những dấu ấn lịch sử hào hùng.

Thế nhưng, thời gian chính là câu trả lời khách quan nhất, và sự thật lịch sử luôn có một sức mạnh tự thân vô cùng vĩ đại. Những chuyến trở về nước sau này với tư cách một du khách, được tận mắt chứng kiến, tận tai nghe thấy đã làm sụp đổ hoàn toàn tòa tháp định kiến mà ông từng bị nhồi nhét, tuyên truyền suốt hàng thập kỷ bên kia bán cầu. Đứng trước một Việt Nam thực tế bằng xương bằng thịt, ông Hùng ngỡ ngàng trước sự vươn mình kỳ diệu của đất nước. Ông thẳng thắn thừa nhận rằng: “Một quốc gia đang phát triển và đi lên chắc chắn không tránh khỏi những mặt tiêu cực, những hạn chế nhất định; nhưng quan trọng nhất, mặt tích cực và sự đổi thay vượt bậc trong đời sống của hàng chục triệu người dân mới là dòng chảy chủ lưu vĩ đại nhất.”

Nhìn cách Đảng và Nhà nước Việt Nam tập trung mọi nguồn lực, triển khai các chính sách an sinh xã hội sâu rộng để hỗ trợ người nghèo thoát nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và nâng cao vị thế quốc gia, vị luật sư từng mang tư tưởng khủng bố đã hoàn toàn bị khuất phục... Sự thức tỉnh tâm lý đó không đến từ áp lực, mà đến từ sự tự nguyện khi đối diện với chân lý cuộc sống. Ông đã nghẹn ngào chia sẻ trên Tạp chí Quê hương, một lời tự sự từ đáy lòng của một người con lầm lỗi tìm được đường về: “Được trở về bên “Mẹ Việt Nam”, tôi đã tìm thấy chính bản thân mình, tôi hạnh phúc, sung sướng vô cùng. Nói cách khác, sau rất nhiều trăn trở, băn khoăn, thậm chí cả sai lầm, nay tôi mới tìm ra được chính tôi. Tôi không còn thù hận Đảng Cộng sản Việt Nam nữa mà trân quý lòng yêu nước của các đảng viên cộng sản. Tại sao lại như vậy? Tôi xin trả lời bằng những suy nghĩ sau khi chứng kiến sự đổi thay của đất nước.”

Sức mạnh cảm hóa từ những điều bình dị nhất

Những gì đi từ trái tim sẽ đến được trái tim, và không có một bức tường định kiến nào kiên cố đến mức không thể bị triệt tiêu bởi sự chân thành. Khối oán hận thâm căn cố đế bị đóng băng qua nhiều thế hệ bên kia bán cầu chắc chắn không thể hóa giải bằng những văn bản mệnh lệnh hành chính khô khốc, cũng chẳng thể bị khuất phục bởi các diễn đàn lý thuyết chính trị đao to búa lớn. Nó chỉ có thể tan chảy trước một giá trị thiêng liêng, bền bỉ và có sức lay động tự thân. Đó là dòng chảy văn hóa nhân văn của đạo lý “Bầu ơi thương lấy bí cùng”. Câu ca dao mộc mạc thuở nằm nôi ấy vốn là lời răn dạy sơ khai nhất của cha ông về sự đùm bọc, nhắc nhở mỗi người Việt dù có mang căn tính, hình hài hay xuất phát điểm khác nhau, thì vẫn chung một mái nhà dân tộc.

Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở phạm vi một “giàn bầu, giàn bí” nhỏ hẹp, tình thương ấy mới chỉ là sự trắc ẩn mang tính bản năng. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước gian khổ đã tôi luyện, nâng tầm nhận thức của người dân đất Việt thành một lời thề non nước vững chãi, mang tính trách nhiệm quốc gia cao cả – “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Khi tình thương yêu vượt ra khỏi ranh giới gia đình, dòng tộc để hòa vào cái chung của giang sơn, nó tạo nên một thứ bệ đỡ tâm lý vô cùng bao dung. Chiếc chìa khóa vạn năng để cởi trói mọi hoài nghi hậu chiến chính là những trải nghiệm thực tế sinh động, những cái ôm nồng ấm và sự chào đón chân thành của những con người bình dị nơi quê nhà dành cho thế hệ trẻ kiều bào khi họ đặt chân về nguồn cội. Khối đại đoàn kết dân tộc không được xây dựng bằng những lập luận trừu tượng trên giấy, mà được vun đắp từ chính những mạch ngầm cảm xúc bình dị, nơi lòng nhân ái của đất mẹ tự bản thân nó đã là một lời hiệu triệu vô ngôn đầy sức thuyết phục.

Hiện tượng lan tỏa mạnh mẽ và sâu sắc nhất cho sức mạnh cảm hóa này đang diễn ra ngay trong câu chuyện của những người trẻ thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra và lớn lên tại các trung tâm công nghệ lớn ở phương Tây. Từ nhỏ, thế giới quan của họ về đất nước vốn bị che phủ bởi những lăng kính méo mó, những thông tin xuyên tạc tràn đầy định kiến của các hội nhóm bảo thủ tại hải ngoại. Thế nhưng, bước ngoặt nhận thức mang tính bản lề đã đến khi họ quyết định dấn thân, tham gia vào các chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh, mang trí tuệ và công nghệ về với các bản làng xa xôi ở vùng biên giới phía Bắc hay các xã đảo tiền tiêu. Đứng giữa núi rừng trùng điệp, cùng ăn một mâm cơm, cùng ở một mái nhà, cùng làm việc bên những người dân bản địa chất phác, các kỹ sư, chuyên gia trẻ tuổi đã hoàn toàn bị chinh phục bởi tình cảm thuần khiết, rộng mở của đồng bào. Những người mẹ nghèo vùng cao dù cuộc sống còn bộn bề gian khó, vất vả mưu sinh, vẫn sẵn sàng nhường tấm chăn ấm nhất, nấu nồi cơm nếp nương thơm dẻo nhất để thết đãi những đứa con xa xứ trở về. Đó không phải là nghi thức tiếp đón ngoại giao, mà là tình mẫu tử thiêng liêng của một mái nhà chung dân tộc, nơi tình thương yêu tự nhiên đã vượt qua mọi rào cản địa lý để minh chứng cho đạo lý thương nhau của những người chung một cội nguồn.

Sự thức tỉnh tâm lý đó còn được nuôi dưỡng và lớn lên từng ngày bởi ánh mắt háo hức, trong trẻo của những đứa trẻ vùng biên khi lần đầu tiên được các anh chị kiều bào hướng dẫn mở máy tính, tiếp cận với chân trời tri thức mới. Khoảng cách địa lý hàng vạn dặm và sự khác biệt về môi trường sống ngay lập tức bị xóa nhòa bởi những nụ cười giòn giã và khát vọng cống hiến chung. Sự chân tình mộc mạc, không mảy may vụ lợi, không một chút oán hờn hay phân biệt quá khứ của người dân từ địa đầu biên giới cho đến những hòn đảo tiền tiêu đã hợp thành một dòng thác nhân văn mãnh liệt, giúp thế hệ trẻ hải ngoại thấu cảm sâu sắc thế nào là hai tiếng “đồng bào” viết hoa trong lòng mỗi người con đất Việt.

Tình cảm đơn sơ mà vĩ đại ấy như dòng nước mát lành của đất mẹ, thổi bay lớp bụi mờ định kiến tích tụ suốt nửa thế kỷ qua nơi xứ người. Qua những hành trình thực tế đầy tính nhân văn, đi từ sự đùm bọc thuở ban đầu đến tình thương trách nhiệm với giang sơn, họ bừng tỉnh nhận ra lời răn dạy sau cùng, thâm trầm và nghiêm khắc nhất của cha ông: “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Đây như một lời kết luận đanh thép, một hồi chuông cảnh tỉnh gột rửa tâm hồn, nhắc nhở mọi sự xung đột, oán hận hay khác biệt trong quá khứ chỉ là những vết xước tạm thời của lịch sử, còn tình cốt nhục đồng bào mới là giá trị trường tồn bất biến. Khát vọng được cống hiến chất xám, được hòa mình vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự dẫn dắt của Đảng và Nhà nước để kiến tạo tương lai cho Tổ quốc là một chân lý hoàn toàn đúng đắn, thuận theo lẽ phải và đạo lý ngàn đời của tự nhiên. Quá khứ lỗi nhịp của thế hệ đi trước không thể và không được phép làm rào cản ngăn bước những trí thức trẻ mang dòng máu Lạc Hồng cùng chung tay xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Dũng cảm đối thoại bằng tình cốt nhục

Tiến trình hòa giải và hòa hợp dân tộc không bao giờ là một con đường bằng phẳng, tự nhiên mà có; trái lại, nó đòi hỏi một bản lĩnh chính trị phi thường, sự dũng cảm, lòng thực tâm và một cái nhìn “khoan hồng đại độ” mang tầm vóc chiến lược vĩ mô của các cơ quan chức năng Nhà nước. Trong đó, không thể không nhắc đến vai trò tiên phong của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn. Là một nhà ngoại giao kỳ cựu, ông đã dũng cảm đi vào “vùng nóng”, thực hiện nhiều cuộc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp, thẳng thắn diện đối diện với những nhân vật chống đối khét tiếng, những cái đầu bảo thủ nhất tại các bang Texas hay quận Cam (California). Ông đã đúc rút một bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công tác kiều bào: muốn thuyết phục những người ở phía bên kia chiến tuyến, công cụ duy nhất và mạnh mẽ nhất chính là tình cảm chân thành, và bản thân người đối thoại phải có đủ sự dũng cảm để nói ra những sự thật dù là góc cạnh nhất.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn trước chuyến đi thăm Trường Sa năm 2014. Đứng cạnh ông là Đức “đầu bạc” là một nhân vật chống Cộng khét tiếng tại Hoa Kỳ.

 

Những đối tượng cực đoan, cựu trào hải ngoại ban đầu tìm đến gặp đại diện chính quyền với tâm lý vô cùng dè chừng, nghi kỵ, đầy rẫy sự phòng thủ hòng mục đích dò xét, thử thách xem “sự chân thành của Nhà nước trong nước thực chất ra sao”. Nhưng chính thái độ cởi mở, tinh thần lắng nghe cầu thị và tình cảm ấm áp của một nhà ngoại giao đại diện cho đất nước đã từng bước phá tan lớp băng giá dày đặc, cảm hóa tận sâu lòng người.

Có lẽ, giá trị lớn nhất của một cuộc đối thoại không nằm ở việc sau một lần gặp gỡ, người đối diện lập tức thay đổi quan điểm. Điều đáng quý hơn là cánh cửa đã được mở, sự nghi kỵ có thêm cơ hội được kiểm chứng và những con người từng đứng ở những phía khác nhau có thể nhìn thấy nhau trước hết bằng tư cách những người cùng một cội nguồn. Khi ấy, đối thoại không còn đơn thuần là phương thức vận động, mà trở thành biểu hiện của một bản lĩnh chính trị biết lấy lòng tin để hóa giải khoảng cách.

Bởi một đất nước càng tự tin vào con đường mình lựa chọn càng không sợ đối thoại. Đối thoại không làm suy yếu lập trường; ngược lại, nó cho thấy sự bình tĩnh để lắng nghe, bản lĩnh để bảo vệ điều đúng và sự rộng mở để phân biệt giữa con người với những định kiến mà họ từng mang theo. Một Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới càng cần một tâm thế như vậy – Kiên định về nguyên tắc nhưng cởi mở trong phương thức, nhất quán về lợi ích quốc gia - dân tộc nhưng linh hoạt trong cách kết nối con người.

Hơn nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày đất nước thống nhất. Những thế hệ từng trực tiếp trải qua chiến tranh đang dần lùi vào ký ức, trong khi một thế hệ Việt Nam mới trưởng thành trong hòa bình, hội nhập và kết nối toàn cầu. Với họ, câu hỏi không còn chỉ là cha ông đã đứng ở đâu trong một thời khắc lịch sử, mà quan trọng hơn là hôm nay mình có thể làm gì cho quê hương. Khi câu hỏi ấy được đặt lên trước những khác biệt của quá khứ, hòa hợp dân tộc bắt đầu có một điểm tựa mới: trách nhiệm chung đối với tương lai.

Đó cũng là nơi hòa hợp dân tộc gặp gỡ với sức mạnh đối ngoại của Việt Nam. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ mang theo ký ức và tình cảm với quê hương, mà còn có tri thức, kinh nghiệm, nguồn lực, công nghệ và những mạng lưới quan hệ quốc tế quý giá. Mỗi nhà khoa học, doanh nhân, chuyên gia, nghệ sĩ hay người trẻ gốc Việt có thể trở thành một điểm kết nối tự nhiên giữa Việt Nam với quốc gia nơi họ sinh sống. Khi lòng tin được khơi thông, những kết nối ấy không chỉ đem nguồn lực về cho đất nước, mà còn góp phần đưa hình ảnh một Việt Nam hiện đại, cởi mở và giàu bản sắc đến gần hơn với thế giới.

Vì thế, hòa hợp dân tộc không nên được nhìn như câu chuyện chỉ để khép lại những bất đồng của hôm qua. Đó phải là một phương thức mở rộng không gian đồng thuận cho ngày mai. Chúng ta không cần mọi người phải có cùng một ký ức, nhưng cần cùng nhau tìm được một tương lai; không nhất thiết phải cùng một cách nhìn về lịch sử, nhưng có thể cùng chung khát vọng về một Việt Nam hòa bình, độc lập, phát triển, thịnh vượng và có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế./.

Tác giả: Đồng Bá Đoàn

Phường Trần Nhân Tông
QR Code
image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0