Ngũ Đài là ngôi chùa cổ, nổi tiếng linh thiêng trong khu vực Ngũ Đài Sơn ở vùng đất Hoàng Tiến, Chí Linh, Hải Dương (nay thuộc phường Trần Nhân Tông, thành phố Hải Phòng). Theo truyền thuyết dân gian, chùa có từ thời Trần, được trùng tu, tôn tạo vào thời Lê, Nguyễn. Chùa có quy mô bề thế, nguy nga với nhiều tòa ngang dãy dọc, nhân dân trong vùng vẫn tự hào ca tụng: “Thứ nhất Ngũ Đài, thứ hai Yên Tử”.
Trải qua thời gian cùng chiến tranh loạn lạc, ngôi chùa dần bị hư hại, xuống cấp, nhân dân đã nhiều lần phải di chuyển, tôn tạo. Gần đây nhất, năm 2003, chùa được xây dựng lại với quy mô nhỏ, trong không gian chật hẹp, không tương xứng với quy mô bề thế của ngôi chùa Ngũ Đài xưa kia. Do vậy, chính quyền và nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (cũ) đã sớm nhận thức và có những định hướng nghiên cứu, quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị của di tích chùa Ngũ Đài nói riêng, khu vực Ngũ Đài Sơn nói chung. Và để có thêm cứ liệu khoa học, làm sáng rõ hơn lịch sử hình thành, biến đổi cũng như những giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan của khu di tích, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương (cũ) đã thống nhất chủ trương, đồng ý đầu tư khảo sát, thám sát và khai quật khảo cổ học tại di tích Ngũ Đài Sơn.
Trên cơ sở đó, từ giữa tháng 8/2019 đến đầu tháng 7/2020, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương (cũ) đã phối hợp tiến hành điều tra, khảo sát, thám sát và khai quật tại khu di tích chùa Ngũ Đài. Với diện tích trên 1.200m2 thám sát và khai quật, kết quả đã xác định được mặt bằng, quy mô, kết cấu của chùa qua các giai đoạn xây dựng và biến đổi từ thời Trần đến thời Nguyễn. Bên cạnh đó, kết quả cũng đã thu được một khối lượng lớn các loại hình di vật, như: vật liệu kiến trúc, đồ thờ tự, đồ sinh hoạt…, góp phần bổ sung nghiên cứu, giám định niên đại và làm sáng rõ hơn đời sống sinh hoạt, văn hóa, xã hội và tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân tại đây.
Chùa Ngũ Đài có tên chữ là Kim Quang tự, thuộc khu dân cư Tân Tiến, phường Hoàng Tiến, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay thuộc tổ dân phố Tân Tiến, phường Trần Nhân Tông, thành phố Hải Phòng). Hoàng Tiến là một phường nằm ở phía đông bắc của thành phố Chí Linh, phía bắc giáp xã Bắc An, phía tây giáp phường Hoàng Tân, phía đông và phía nam giáp xã Bình Dương thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Phường Hoàng Tiến có lịch sử từ lâu đời. Từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 18, hai thôn (lúc đó là xã) Phục Thiện và Hoàng Gián (hoặc Hoàng Giản) của Hoàng Tiến ngày nay thuộc tổng Chi Ngãi, huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc. Đến đời vua Lê Ý Tông (1735 - 1740), hai xã này mới thuộc về huyện Chí Linh, trấn Hải Dương. Thời Nguyễn, năm 1831, đổi thành tỉnh Hải Dương. Tháng 4/1947, huyện Chí Linh, thuộc về liên tỉnh Hồng Quảng. Tháng 11/1948 thuộc về tỉnh Quảng Yên. Ngày 17/02/1955, huyện Chí Linh trở về trực thuộc tỉnh Hải Dương. Ngày 12/02/2010, thành lập thị xã Chí Linh gồm toàn bộ diện tích và dân số của huyện Chí Linh. Ngày 10/01/2019, thành lập thành phố Chí Linh trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Chí Linh. Phường Hoàng Tiến có 7 khu dân cư, gồm: Phục Thiện, Trung Tâm, Đồng Cống, Hoàng Gián cũ, Hoàng Gián mới, Trại Trống và Tân Tiến. Theo Lý lịch di tích và truyền tụng trong dân gian, chùa Ngũ Đài do Thiền phái Trúc Lâm xây dựng dưới triều vua Trần Minh Tông, năm 1320 và trùng tu vào các thời Lê, Nguyễn. Nội dung văn bia “Tu tạo Ngũ Đài Sơn Kim Quang tự bi minh” hiện còn lưu giữ tại chùa, khắc vào đời vua Lê Kính Tông, năm Nhâm Tý, niên hiệu Hoằng Định thứ 13 (1612), cho biết: vào đầu thế kỷ 17, chùa được “...Trùng tu Thượng điện - Mở rộng Tiền đường - Tô thêm tượng Phật - Tướng mạo ngọc vàng…”. Với quy mô và diện mạo mới, thời kỳ đó, trong tâm thức người dân, chùa Ngũ Đài đã “vượt Yên Tử”; là nơi “Công hầu tấp nập - Triều đình vãng thăm - Hoàng triều Lễ phục - Vua giúp ngọc khuê - Công danh sáng tỏ - Sự nghiệp vẻ vang…”. Câu nói: “Thứ nhất Ngũ Đài, thứ hai Yên Tử” được dân gian “truyền tụng” có lẽ cũng xuất phát từ sự nguy nga, tráng lệ của chùa Ngũ Đài sau đợt trùng tu này.
Trải qua nắng mưa tàn phá, chiến tranh loạn lạc và thời gian, chùa bị hư hại nặng nề. Đến năm 1936, nhân dân địa phương thấy cảnh chùa bị ẩm thấp quanh năm, các công trình kiến trúc dần bị phá hủy nên đã quyết định chuyển chùa lên vị trí hiện nay. Đến năm 2003, chùa tiếp tục bị xuống cấp nặng nề, nhân dân địa phương và những nhà hảo tâm đã góp công của xây dựng lại chùa như hiện nay. Chùa được xây dựng trên một khu đất cao (tọa độ 21o 09’50,7’’ vĩ Bắc, 106o 28’55,8’’ kinh Đông), nằm sâu trong núi, khá xa khu dân cư (cách trục đường Quốc lộ 18 khoảng 5,5km), bốn bề bao phủ cây xanh, rừng tạp nhiệt đới. Trước mặt là những ngọn đồi thấp khá bằng phẳng, xen kẽ những khu đất trũng ngập nước và những con suối nhỏ, xa hơn về phía tây nam thẳng trục thần đạo là dãy núi Ba Dội vươn cao, đỉnh núi khá bằng phẳng như tấm bình phong che chắn; lưng tựa núi Đống Thóc, trên cao là ngọn Bát Hương và trên cùng là khu vực Cổng Trời ở vị trí cao nhất; hai bên có hai dãy núi vươn ra tạo thành thế tay ngai, bên phải là dãy và khe Hang Khánh/Khách, bên trái là khe Chùa và dãy núi, khe Hang Mẳn/ Mẫu. Với bố cục này, chùa Ngũ Đài giữ vị trí trung tâm của chốn Phật môn, tuân thủ chặt chẽ triết lý phong thủy, rất phù hợp và tương đồng với không gian chùa, tháp Phật giáo Trúc Lâm mà ngày nay chúng ta vẫn thấy hiện hữu rộng khắp vùng Đông Bắc. Chùa có mặt bằng hình chữ Đinh (T), gồm 5 gian Tiền Đường và 2 gian Hậu Cung. Ngôi chùa chính ngoài thờ Phật còn xây thêm các kiến trúc thờ Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn, Nhà thờ Tổ... Các công trình hiện nay tồn tại trong khu di tích như chùa, nhà thờ Mẫu, nhà Tổ, tháp Sư, nhà Bia, khu kiến trúc phụ… được trùng tu, tôn tạo, xây mới, mở rộng hoặc thu hẹp quy mô, kích thước… vào những năm 1999 - 2003 và 2009 - 2010, trên cơ sở mặt bằng và xây chồng đè lên các vết tích nền móng của ngôi chùa được xây dựng năm 1936. Các vết tích của ngôi chùa xây dựng năm 1936 như móng kiến trúc xây bằng đá núi, gạch thời Lê (gạch tận dụng để sử dụng lại)… liên kết bằng vôi vữa hiện vẫn còn quan sát được rất rõ, đã bị các kiến trúc xây dựng năm 2003 xây chồng đè lên trên.
Phía sau chùa và nhà thờ Mẫu hiện tại là khoảng rừng tái sinh gồm: các loại cây rừng tự nhiên và một số loại cây keo, thông, lim… được trồng vào những năm 1994 - 1995, các loại cây thân dây leo, thảm thực vật (lau, le, ràng ràng…) rậm rạp phủ kín bề mặt. Qua khảo sát phát hiện một số chân tảng bằng sa thạch thời Trần (1 chân tảng), thời Lê Trung hưng (3 chân tảng) và các loại mảnh gạch, ngói, sành, gốm men… thời Lê Trung hưng, thời Nguyễn nằm rải rác trên bề mặt.
Tương truyền, ở khu vực Ngũ Đài Sơn, ngoài chùa Ngũ Đài còn có nhiều ngôi chùa lớn nhỏ, linh thiêng, với hàng trăm gian, phân bố trải dài từ chân núi lên tới đỉnh núi. Do vậy, bên cạnh việc tiến hành đào thám sát và khai quật tại khu vực chùa Ngũ Đài, chúng tôi còn mở rộng khảo sát ở khu vực Ngũ Đài Sơn.
- Tại khu vực núi Đống Thóc, ngay phía trước tượng Phật Bà Quan Âm hiện nay, phát hiện 3 cấp nền khá bằng phẳng, nhiều vị trí xuất lộ bó vỉa bằng đá, niên đại khoảng thời Lê Trung hưng (thế kỷ 17 - 18).
- Tại khu vực dãy núi Hang Khánh (Hang Khách), nằm ở phía tây bắc núi Đống Thóc, tìm thấy 2 địa điểm có vết tích nền móng kiến trúc (mỗi địa điểm có 3 cấp nền) được bó vỉa bằng đá núi tương đối bằng phẳng, vuông vức, quy mô rộng, bề mặt xuất lộ một số vật liệu gạch, ngói, mảnh gạch xây tháp bằng đất nung, niên đại thời Trần, thế kỷ 13 - 14. Đáng chú ý những mảnh ngói mũi hình tam giác (hay hình lá) phát hiện ở đây có độ dày đến 2,5cm, đất nung màu đỏ tươi, báo dẫn về những công trình kiến trúc có quy mô to lớn có niên đại thời Trần ở khu vực này.
- Tại khu vực khe Hang Mẳn (hang Mẫu), ở phía đông nam núi Đống Thóc, cũng phát hiện 3 cấp nền tương đối bằng phẳng, dài khoảng 15m, rộng 7m, được kè đá núi cùng các di vật là mảnh vỡ các loại đồ đựng bằng sành, đất nung có niên đại thời Lê Trung hưng (thế kỷ 17 - 18).
- Tại khu vực núi Bát Hương, phía trên núi Đống Thóc, kết quả khảo sát cũng phát hiện vết tích của ngôi chùa Hàm Long cổ, với hai cấp nền hình gần vuông, dài 11m, rộng 10m, bó vỉa bằng đá núi, hiện vật thu được là mảnh vỡ của loại đồ đựng bằng sành có niên đại Lê Trung hưng.
- Khu vực Cổng Trời, phía trên địa điểm núi Bát Hương được dân gian lưu truyền với nhiều truyền thuyết dân gian ly kỳ, linh thiêng… gắn liền địa danh Cổng Trời, Cầm Cập, Nậm Rượu, Giếng Trời, Bàn Chân Phật, Ông Cóc, con Thỏ, con Lợn, con Rùa… Qua khảo sát, xác định đây là một “Công viên đá” hoàn toàn tự nhiên, thiên tạo, không có dấu tích kiến trúc xây dựng ở khu vực này.
Như vậy, qua kết quả khảo sát cho thấy, trong khu vực Ngũ Đài Sơn, ngoài ngôi chùa Ngũ Đài - Kim Quang tự đã được nghiên cứu, khai quật, làm rõ quy mô, kết cấu, còn có nhiều công trình kiến trúc chùa, tháp có niên đại từ thời Trần đến thời Nguyễn phân bố rộng khắp tại các khu vực núi Đống Thóc, Bát Hương, dãy Hang Khánh, khe Hang Mẳn, tạo thành một quần thể chùa, tháp Phật giáo rộng lớn, có mối liên hệ khăng khít với nhau. Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết dân gian về quần thể di tích chùa, tháp phân bố rộng lớn đã từng hiện hữu nơi đây. Vị trí “Thứ nhất Ngũ Đài” hẳn không phải không có lý do. Rất tiếc, ngày nay các di tích đó đã bị hoang phế và vùi lấp trong lòng đất, rất cần được nghiên cứu, làm rõ.
Kết quả nghiên cứu và khai quật đã xác định rõ vị trí, quy mô, kết cấu, đặc điểm kiến trúc và diễn biến niên đại xây dựng, trùng tu, tôn tạo và biến đổi của di tích chùa Ngũ Đài. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh chùa Ngũ Đài được khởi dựng từ thời Trần, đầu thế kỷ 14, trùng tu lớn vào đầu thế kỷ 17, tiếp tục trùng tu và cải tạo vào giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, sang đầu thế kỷ 20 lại tiếp tục được đầu tư xây mới và dịch chuyển về vị trí như hiện nay.
Kết quả khai quật cũng cho thấy, vào thời Trần, trong không gian Ngũ Đài Sơn không chỉ có chùa Ngũ Đài - Kim Quang Tự mà còn có một hệ thống các di tích chùa, tháp phân bố rộng khắp trên lưng chừng các ngọn núi. Đây có thể là hệ thống chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được xây dựng trong giai đoạn đầu thế kỷ 14, khi đất nước đã bước vào giai đoạn ổn định, phát triển sau cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 giành thắng lợi. Đây là giai đoạn Thiền sư Pháp Loa giữ cương vị là Tổ thứ 2 của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. Trong giai đoạn này, Ngài đã cho xây dựng và trùng tu nhiều ngôi chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm ở khu vực 3 địa phương Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng ngày nay. Những ngôi chùa như: Hoa Yên, Quỳnh Lâm, Ngọa Vân, Hồ Thiên (Quảng Ninh), Thanh Mai (Hải Phòng), Vĩnh Nghiêm, Mã Yên, Hồ Bấc (Bắc Ninh)… với vị trí và không gian phân bố liền, gần với chùa Ngũ Đài, được xây dựng và trùng tu vào đầu thế kỷ 14, là những minh chứng để chúng ta có thể đối chiếu với lịch sử hình thành chùa Ngũ Đài và những ngôi chùa trong khu vực Ngũ Đài Sơn.
Qua kết quả nghiên cứu, khai quật di tích chùa Ngũ Đài và khảo sát mở rộng không gian, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy, các ngôi chùa đều được xây dựng ở các khu vực núi cao, cảnh quan hùng vĩ, có tầm nhìn bao quát, gần gũi với thiên nhiên và rất phù hợp với triết lý phong thủy. Đây cũng là mẫu số chung khi chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu các ngôi chùa thời Trần, thuộc Thiền Phái Trúc Lâm ở các khu vực thuộc Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng. Đây sẽ là những chứng cứ vật chất quan trọng, cung cấp cứ liệu khoa học, đảm bảo tính chân xác và toàn vẹn, hết sức cần thiết phục vụ cho việc xây dựng Hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử tại ba tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và Bắc Giang là Di sản Văn hóa Thế giới.
Sang thời Lê, đầu thế kỷ 17, kết quả khai quật đã cho thấy, chùa Ngũ Đài tiếp tục nhận được sự quan tâm và đầu tư quy mô của triều đình, quan lại cùng tầng lớp quý tộc đương thời. Giai đoạn này, với lòng sùng Phật của các vua Lê, chúa Trịnh cùng hoàng gia, nhiều ngôi chùa ở miền Bắc đã được phát tâm và đầu tư xây dựng, trùng tu. Hơn nữa, cùng với sự du nhập và phát triển mạnh mẽ của phái Thiền Tào Động vào nước ta, nhiều ngôi chùa đã được hoằng dương và xây mới, với không gian kiến trúc được mở rộng để tương thích với hệ thống tượng thờ cũng như nhu cầu sinh hoạt trong chùa. Chùa Ngũ Đài cũng đã được “thay da, đổi thịt” trong hoàn cảnh như vậy. Theo ghi chép của văn bia, vào giai đoạn đầu thế kỷ 17, chùa Ngũ Đài là nơi triều đình, công hầu tấp nập vãng thăm; quy mô các kiến trúc đã được thay đổi, mở rộng với mặt bằng “nội Công ngoại Quốc”. Đây là loại mặt bằng kiến trúc chùa phổ biến trong giai đoạn Lê Trung hưng (thế kỷ 17 - 18), vốn đã được hình thành và phát triển trong giai đoạn thời Lê sơ (thế kỷ 15) với chức năng là những điện thờ hay công đường như ở Lam Kinh (Thanh Hóa), Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội).
Thời Nguyễn, với bao biến động của lịch sử, điều kiện kinh tế ngày một khó khăn hơn, nên việc đầu tư xây dựng, trùng tu lại chùa Ngũ Đài đã nhiều phần giảm sút. Mặc dù vào giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, ngôi chùa cũng đã được sửa chữa, tu bổ và mở rộng thêm không gian thờ tự ở phía sau Hậu Đường, nhưng nhiều đơn nguyên đã bị triệt giải như khu vực nhà Tăng, hai dãy hành lang; hoặc thu hẹp lại quy mô như ở kiến trúc Hậu Đường. Dần dần các kiến trúc cũng bị hư hỏng, để đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ngôi chùa chỉ còn lại những gian nhà khách ở phía dưới chân núi, được tận dụng để làm nơi thờ tự. Sau do mưa nhiều, ẩm thấp quanh năm, nhân dân mới lại dịch chuyển lên trên để xây dựng với quy mô nhỏ bé hơn (năm 1936) như vị trí hiện nay.
Từ kết quả nghiên cứu, khai quật, chúng ta thấy rằng, cần sớm có quy hoạch tổng thể của khu vực chùa Ngũ Đài và các khu vực xung quanh; Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, khai quật khảo cổ để xác định rõ mặt bằng, quy mô, kết cấu kiến trúc của các công trình kiến trúc chùa, tháp ở các khu vực núi Đống Thóc, chùa Hàm Long, dãy Hang Khánh, khe Hang Mẳn, làm tăng thêm giá trị khoa học, lịch sử, văn hóa, tạo cơ sở cho việc quy hoạch và kiến tạo không gian du lịch tâm linh và nghỉ dưỡng tại đây. Hy vọng trong tương lai không xa, quần thể di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng Ngũ Đài Sơn với một hệ sinh thái tự nhiên phong phú sẽ trở thành nơi đón du khách tới thưởng ngoạn, đắm mình vào phong cảnh kỳ thú, tìm hiểu thêm về một dòng Thiền thuần Việt và nghe những câu chuyện cổ ly kỳ, mang tính nhân văn sâu sắc./.