Tư tưởng của Trần Nhân Tông về lãnh đạo

Tóm tắt: Trong hệ thống tri thức về lãnh đạo của ông cha ta, tư tưởng của Trần Nhân Tông về lãnh đạo có ý nghĩa quý giá cho hậu thế. Những nội dung cốt yếu trong tư tưởng của Trần Nhân Tông về lãnh đạo bao gồm: chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và tinh thần tự cường, độc lập dân tộc; đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy dân chủ để tạo nên sức mạnh của quốc gia; ngoại giao chủ động hòa hiếu với nước lớn, xây đắp mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng; coi trọng hành pháp và xây dựng chính quyền phù hợp tình hình thực tiễn của đất nước để giữ vững quyền lực; coi trọng phát triển toàn diện cả kinh tế, quân sự và văn hóa trong lãnh đạo đất nước; coi trọng vận dụng khoa học và kinh nghiệm của ông, cha trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược; và một số phẩm chất cần có đối với người lãnh đạo.

Sau mười lăm năm trị vì quốc gia (1278-1293), mười lăm năm làm Thái Thượng hoàng (1293-1308) cùng mười bốn năm xuất gia tu hành (1294-1308), Trần Nhân Tông để lại một kho tri thức vô giá về lãnh đạo. 

Tuy không tập hợp riêng một công trình về tư tưởng lãnh đạo, nhưng tổng hợp những quan điểm và hành động lãnh đạo, trị vì quốc gia của Trần Nhân Tông đủ tầm vóc để được coi là tư tưởng Trần Nhân Tông về lãnh đạo - một di sản có tầm ảnh hưởng vượt thời gian và không gian, có ý nghĩa tham khảo cho không chỉ dân tộc ta mà còn đối với một số dân tộc khác trên thế giới.

Dựa trên thông tin, tư liệu đã được công bố bởi một số nhà nghiên cứu, trong đó có nghiên cứu sử học, bài viết này tiếp cận và phân tích một số quan điểm cơ bản của Trần Nhân Tông về lãnh đạo nhằm bổ sung tri thức cho khoa học lãnh đạo hiện đại và là tài liệu tham khảo cho thực tiễn lãnh đạo, quản lý hiện nay. 

1. Quan điểm về chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và tinh thần tự cường, độc lập dân tộc

Tháng 12 năm 1278, chưa đầy hai tháng từ khi lên ngôi, vua Trần Nhân Tông đã phải tiếp ngay sứ bộ của vua nhà Nguyên ở Trung Quốc đem theo lời đe dọa tiến công nước ta: “Ngươi nếu không chầu thì hãy sửa thành trì của ngươi, chỉnh đốn quân đội ngươi để đợi quân ta (...) Cha ngươi đã nhận lệnh ta làm vua. Ngươi không xin lệnh mà tự lập, nay lại không chầu. Ngày sau triều đình gia tội thì lấy gì mà trốn?”. Song song với việc cùng các tướng lĩnh gấp rút chuẩn bị ứng phó chiến tranh, Trần Nhân Tông sai các sứ giả mang đồ vật sang cống kèm theo biểu gửi vua Nguyên (tên là Hốt Tất Liệt), từ chối vào chầu với lời lẽ giãi bày rất khéo léo, dùng ngôn từ “hạ cái tôi của mình” để mong tránh cuộc chiến tranh xâm lược: “Cô thần bẩm khí yếu đuối, mà đường sá lại khó khăn, chỉ luống phơi bộ xương trắng đến nỗi bệ hạ phải xót thương mà không ích gì cho triều đình trong muôn một. Nép mong bệ hạ xót thương tiểu quốc xa xôi, khiến thần được cùng bọn đơn côi quan quả giữ được tính mạng để suốt đời phụng sự bệ hạ. Đó là nỗi may lớn nhất của cô thần mà cũng là phúc to của sinh linh tiểu quốc”. 

Rút kinh nghiệm sau trận thua Đại Việt (tên nước Việt Nam thời Trần) vào năm 1258, lần thứ hai này nhà Nguyên tính toán cẩn trọng hơn, đánh chiếm Chiêm Thành ở phía nam Đại Việt trước, để tạo thế gọng kìm bao vây nước ta. Tháng 7/1284, Hốt Tất Liệt ra lệnh cho con là Thoát Hoan cầm quân đánh Chiêm Thành. Thoát Hoan đã sai người gửi thư yêu cầu nước ta cho mượn quân, cấp lương thực, mượn đường nhưng vua Trần Nhân Tông đều khéo léo từ chối: “Từ nước tôi đến Chiêm Thành, thủy bộ đều không tiện”. Đồng thời, ông cử sứ giả sang Chiêm Thành nắm tin tức, yêu cầu Trần Hưng Đạo (tên thật là Trần Quốc Tuấn), người thống lĩnh quân đội, đem quân lên án ngữ biên giới phía nam.

Sử liệu Trung Quốc còn lưu giữ 22 bức thư ngoại giao Trần Nhân Tông gửi nhà Nguyên đều thể hiện quan điểm trước sau như một: Không chấp nhận sang chầu tại Trung Quốc, không run sợ trước những lời đe dọa chiến tranh. Hốt Tất Liệt đã dùng nhiều mánh khóe khác nhau, từ dụ dỗ về phong quan tước tới xấc xược đe dọa sang đánh, nhưng Trần Nhân Tông đều mềm dẻo nhưng kiên định “từ chối sang chầu” với lý do rất hợp lý: “chỉ vì tham sống sợ chết”, đường sá xa xôi, không quen thủy thổ, nếu chết dọc đường đi thì bỏ hoang xã tắc, không có lợi gì cho “thiên triều” ở Trung Quốc. Càng hiểu rõ hơn lập trường, bản lĩnh độc lập, tự cường vững như bàn thạch của Trần Nhân Tông khi mà thời đó sử sách Trung Quốc có ghi “duy có Nhật Nam là nước nhỏ bé, bề ngoài tuy làm chư hầu, chịu lễ cống tiến, không hề thiếu, chưa hết lòng thành”, còn vua của các nước nhỏ bé khác đều đã đích thân sang chầu “Thiên tử”. Với mục đích muốn cướp nước ta của Hốt Tất Liệt thì sang chầu chẳng khác gì tự dâng chủ quyền quốc gia. Khéo từ chối và tích cực chuẩn bị lực lượng ứng phó khi chiến tranh xảy ra là sự thể hiện bản lĩnh độc lập, tự cường: Đem trí ta, sức ta bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của dân tộc ta.

2. Quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy dân chủ để tạo nên sức mạnh của quốc gia

Trần Nhân Tông ý thức rất rõ để tồn tại độc lập bên cạnh nước lớn phải phát huy mọi sức mạnh của dân tộc mà cơ sở vững chắc của nó là lòng yêu nước. Hễ là người dân Đại Việt đều có thể góp công sức xây dựng, bảo vệ đất nước. Vì thế, trong đội quân chống giặc Nguyên - Mông có những người xuất thân từ dòng dõi thân vương như Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo,... có những người xuất thân từ dân thường như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái,... có những người rất trẻ như Trần Quốc Toản, có những người cao tuổi như các bô lão trong Hội nghị Diên Hồng, có những người thuộc dân tộc thiểu số như Hà Đặc, Hà Chương; có cả những đạo sĩ ngoại quốc như Hứa Tông Đạo, thậm chí có người là tướng tá của giặc như Trương Hiển. 

Một cơ sở nữa tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc là “cùng chung quyền lợi”. Dưới sự lãnh đạo của Trần Nhân Tông, nhằm khích lệ ý chí chống giặc ngoại xâm của các tướng sĩ, Trần Hưng Đạo đã biên soạn “Hịch tướng sĩ” trong đó nói rõ những được, mất khi chiến thắng hay bại trận, niềm tự hào khi được làm chủ đất nước hay nỗi nhục lưu danh khi thua giặc, bị chúng giày xéo cả mồ mả tổ tiên; áng thiên cổ hùng văn “Hịch tướng sĩ” không chỉ thức tỉnh mạnh mẽ lòng tự trọng, tinh thần yêu nước ở các tướng sĩ mà cả ở muôn dân. Tinh thần đoàn kết này xuyên suốt nhiều thời kỳ lịch sử của Việt Nam.

3. Quan điểm ngoại giao mềm dẻo, chủ động hòa hiếu với nước lớn, xây đắp mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng

Trần Nhân Tông đã học hỏi, kế thừa truyền thống ngoại giao của các triều đại đi trước và linh hoạt, sáng tạo, đầy bản lĩnh, vô cùng khéo léo để cân bằng, hài hòa mối quan hệ bang giao với các nước láng giềng sao cho có lợi nhất cho nước ta. Nhất quyết không sang chầu nhưng ông đã nhiều lần cử sứ giả sang cống nạp cho vua Nguyên và gửi thư nhún nhường xin xá tội để giữ hòa hiếu. Sau hai lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông, ông cũng không vì thế mà ngạo mạn, vẫn tiếp tục cống nạp với số lượng sản vật rất lớn, giá trị kinh tế cao, viết thư kể rõ các tội ác của giặc, nhưng lại khéo khẳng định đó là do tướng miền biên viễn “tham lập công ngoài biên giới”, làm trái Thánh chỉ, để hoàng đế Hốt Tất Liệt không cảm thấy nhục vì thua trận. Rõ ràng, ông muốn làm dịu quan hệ giữa hai bên, chỉ mong có hòa bình để dân được an lành. Bất đắc dĩ, thế không đừng được, vua và quân, dân ta mới phải dụng binh chống trả. 

Tư tưởng ngoại giao sẵn sàng hợp tác với nước nhỏ láng giềng cũng được Trần Nhân Tông rất coi trọng. Khi nhà Nguyên đánh Chiêm Thành, ông bí mật gửi quân đi giúp Chiêm Thành để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa. Bỏ qua những lời dị nghị, ông chủ động gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm để thắt chặt mối quan hệ, tạo sự ủng hộ vững chắc của Chiêm Thành nếu phương Bắc lại tấn công nước ta, đồng thời mở rộng bờ cõi thêm được hai châu Ô, Lý (món quà sính lễ của vua Chiêm) mà không tốn một mũi tên. 

Phương châm hòa hiếu với nước lớn, kiên quyết bảo vệ nước mình từ sớm, từ xa còn thể hiện ở việc Trần Nhân Tông đồng ý cấp lương, cấp thuyền cho hàng nghìn tù binh của nhà Nguyên về nước nhưng riêng tướng giặc Ô Mã Nhi khét tiếng độc ác thì phải chết. Nhà Nguyên mất tướng giỏi nhưng không có cớ gì để trách Đại Việt. Quan điểm và nghệ thuật ngoại giao tài tình của Trần Nhân Tông kết hợp vừa kiên định mục đích độc lập chủ quyền dân tộc, vì lợi ích quốc gia, vừa mềm dẻo, linh hoạt trong ứng biến với giá trị cốt lõi là tinh thần nhân văn, hòa hiếu, yêu hòa bình đã để lại bài học vô giá đối với lãnh đạo quốc gia hiện đại.

4. Coi trọng hành pháp và xây dựng bộ máy nhà nước phù hợp tình hình thực tiễn của đất nước để giữ vững quyền lực

Trần Nhân Tông là nhà lãnh đạo có bản lĩnh, tài giỏi trong đối nội, củng cố bộ máy nhà nước. Ông có tư duy chiến lược sâu sắc, coi trọng hành pháp, thưởng phạt nghiêm minh nhưng đầy tính nhân văn để khích lệ quân, dân và củng cố quyền lực. Ví dụ, trước khi chiến tranh 1285 xảy ra, ông đưa ra yêu cầu: “Phàm các quận huyện trong nước, nếu như có giặc ngoài đến, thì phải tử chiến. Hoặc nếu sức địch không lại thì cho phép trốn vào trong núi đầm. Không được đầu hàng”. Sau chiến thắng, trong lễ thưởng công, Đỗ Hành chỉ được phong chức quan nhỏ (quan nội hầu) vì khi bắt được Ô Mã Nhi mà không dâng cho vua, lại dâng cho Thượng hoàng. Điều này cho thấy vị thế quyền lực tối cao, “tổng chỉ huy” của vị vua trẻ, không lệ thuộc vào Thái Thượng hoàng; hành vi “hạ thưởng” nhằm cảnh báo chung về việc phải chấp hành kỷ cương, phép vua. Pháp chế quân sự thời Trần cũng rất chặt chẽ và nghiêm minh, những người làm gian lận sổ hộ tịch để che giấu dân đinh sẽ bị phạt rất nặng. Người đào ngũ có thể bị chặt ngón chân, nghiêm trọng hơn có thể bị xử tội phản quốc. Tuy nhiên, Nhà nước cũng qui định những trường hợp được miễn đi lính như con trai một hoặc con quan từ tứ bát phẩm trở lên.

Trần Nhân Tông có tầm nhìn trong thiết kế bộ máy nhà nước phù hợp với từng điều kiện lịch sử cụ thể. Khi chiến tranh, ông rất chú trọng dùng các tướng tài về quân sự. Khi hòa bình, ông chú trọng sử dụng đội ngũ quan chức giàu tri thức về xã hội, văn hóa, lịch sử, nắm vững luật pháp và đạo đức thanh liêm. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông “chọn quan văn chia đi cai trị các lộ”, thực hiện cai trị theo pháp luật nghiêm minh, công bằng để dân yên tâm sản xuất, thường tiến hành thanh tra các quan. Ông sớm chủ trương xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, gọn nhẹ, hiệu quả, không bắt nhân dân phải nặng gánh để nuôi bộ máy hành chính nhà nước phình to vô lý. Trong một lần thanh tra, phát hiện An phủ sứ Diễn Châu tên là Phí Mạnh mới tại chức chưa bao lâu mà nổi chứng tham ô, vua gọi về đánh trượng rồi lại cho về trị sở. Sau khi bị xử nghiêm, vị quan này thanh liêm đến mức người châu Diễn khen: “An phủ Diễn Châu trong như nước”. 

Như vậy, trước, trong và sau chiến tranh, Trần Nhân Tông đều rất coi trọng hành pháp, giữ nghiêm phép nước, xây dựng và củng cố bộ máy quyền lực nhà nước vì dân. Đây là kế sách đúng đắn để giữ vững quyền lực chính trị, an dân thì quốc gia mới thịnh vượng.

5. Coi trọng phát triển toàn diện cả kinh tế, quân sự và văn hóa trong lãnh đạo quốc gia 

Trong thời gian trị vì, Trần Nhân Tông thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm phát triển kinh tế quốc gia như khuyến khích khai khẩn đất hoang, khơi thông sông ngòi, phát triển giao thông đường thủy, tiểu thủ công nghiệp (nghề gốm, chạm khắc đá, nghề rèn, nghề dệt, làm nón...), mở mang bờ cõi về phía nam. Nhờ vậy, nền kinh tế phát triển, giao thương tấp nập.

Về quân sự, ông tiếp tục thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” từ thời triều Lý, các ngoại binh ở địa phương luân phiên cho về làm ruộng để đỡ tốn lương. Điều này đảm bảo xây dựng lực lượng quân đội hùng hậu, rộng khắp cả nước mà tốn ít chi phí. Năm 1284, vua Trần cho thực hiện cuộc duyệt binh lớn nhất để chuẩn bị chống giặc Nguyên - Mông.

Về văn hóa tinh thần, ông chủ trương đề cao lịch sử dân tộc và chấn hưng văn hóa Đại Việt bằng những chính sách như phong thần cho các anh hùng liệt nữ có công với nước từ xưa đến nay, sử dụng chữ Nôm trong công việc triều chính và trong thơ văn, mở trường dạy chữ Nôm để phổ biến thành chữ quốc ngữ. 

Có ba giáo lý vận hành phổ biến ở nước ta thời đó là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo thì ông tìm những hạt nhân hợp lý trong từng đạo này để khéo léo vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo, quản trị quốc gia. Chính sách “Tam giáo đồng nguyên” đã làm cho mối quan hệ chính trị thời Trần Nhân Tông có nét đặc sắc riêng, “trên dưới thuận hòa”. “tốt đạo, vui đời”. Tính khuôn phép, thứ bậc của Nho giáo đã được mềm hóa đi nhờ vào triết lý “từ, bi, hỉ, xả”, coi trọng, yêu thương mọi chúng sinh của đạo Phật và triết lý sống thuận theo tự nhiên của đạo Lão. Giữa vua, quan và dân không quá xa cách mà rất gần gũi, thân mật. Phật hoàng Trần Nhân Tông đi khắp nơi giáo hóa nhân dân thực hành “Thập thiện” (mười điều thiện), “cư trần lạc đạo” theo thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang bản sắc, giá trị văn hóa Việt Nam đã góp phần to lớn trong việc định vị và bồi đắp các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của Đại Việt, thống nhất đời sống tâm linh, cảm thức của dân tộc; là cơ sở quan trọng để tạo nên sự đồng thuận, đoàn kết trong xã hội, giảm thiểu các xung đột không cần thiết. Phật hoàng chủ trương bài trừ tín ngưỡng kiểu mê muội, nhấn mạnh tu dưỡng đạo đức theo Phật pháp ngay tại gia đình, trong đời sống hàng ngày, không cần tìm Phật ở đâu xa, Phật tại tâm. 

Như vậy, tư tưởng lãnh đạo của Trần Nhân Tông luôn đồng thời coi trọng ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế, củng cố quân đội và xây dựng văn hóa dân tộc nhằm tạo ra sức mạnh nội lực của quốc gia. Đây được xem là kế “sâu rễ bền gốc” để giữ vững quyền lực, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược và phát triển đất nước.

6. Coi trọng vận dụng khoa học và kinh nghiệm của ông, cha trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược

Để chống giặc Nguyên-Mông, vua Trần Nhân Tông đã cùng với Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh thống nhất kế hoạch chiến lược dựa trên nguyên tắc có cơ sở khoa học. Lợi thế so sánh là sự am hiểu địa thế, thổ nhưỡng, qui luật tự nhiên trên đất nước mình đã được vua tôi nhà Trần phát huy triệt để trong quá trình lập kế hoạch chiến lược tổng thể, kế hoạch tác chiến cụ thể từng trận; từng bước dẫn dụ địch vào sâu, cầm chân địch lâu trên đất nước ta, làm cho quân địch trở nên mệt mỏi, chán chường, buộc phải rút quân về nước vì thiếu lương thực, không chịu đựng được thời tiết phương Nam; khi đó quân ta sẽ phản công, đón đánh.  

Thực tế cho thấy, giặc Nguyên - Mông đánh các trận đầu hầu hết đều thắng, vượt qua các cửa ải của ta khá dễ dàng, quân ta chấp nhận thua, rút chạy để bảo toàn lực lượng. Ví dụ, trận Vạn Kiếp có số quân lên tới 2 vạn mà địch chỉ bắt được 16 người của quân ta. Địch chiếm Thăng Long, có trận ta thắng lớn nhưng vẫn chấp hành chủ trương rút lui. Địch đuổi theo quân ta, tới Thiên Trường (Nam Định ngày nay) nhưng không tìm thấy vua và quân đâu. Căm tức, Thoát Hoan và Ô Mã Nhi quay lại càn quét Thiên Trường, Thăng Long. Thiếu lương thực, chúng phải đi đón lương thực tiếp tế ở cửa Đại Bàng. Đoàn thuyền lương tiếp viện của địch lại bị tướng Trần Khánh Dư và quân ta tiêu diệt hoàn toàn tại cửa Đại Bàng (300 chiếc thuyền và 10 thủ cấp). Chính Thoát Hoan phải nói: “Đất nóng, ẩm thấp, lương thiếu, quân mệt”. Chúng quyết định phải rút quân về nước. 

Đón đánh giặc trận cuối, quân ta mai phục tiêu diệt 6 vạn quân địch tại sông Bạch Đằng. Một lần nữa, nhà Trần lại học hỏi kinh nghiệm của ông, cha ta: Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán năm 938, Lê Đại Hành đánh tan quân Tống năm 981 trên sông Bạch Đằng. Bài học lợi dụng qui luật thủy triều, nhử thuyền giặc vào bẫy cọc trên sông năm xưa lại được vận dụng nhuần nguyễn. Chiến thắng Bạch Đằng lẫy lừng năm 1288 đè bẹp ý chí xâm lược của nhà Nguyên, phản ánh trí tuệ, tư duy khoa học quân sự tài tình và ý chí quyết chiến quyết thắng của quân, dân ta dưới tài lãnh đạo của Trần Nhân Tông và tổng chỉ huy quân sự của Trần Hưng Đạo là bài học về luôn coi trọng, học hỏi tư duy, kinh nghiệm của ông, cha trong cuộc đấu tranh giữ nước. 

Lịch sử Việt Nam hiện đại cho thấy quan điểm xây dựng “thế trận lòng dân” để chống giặc, biện pháp “tiêu thổ kháng chiến”, “vườn không nhà trống”, chiến tranh du kích, phương châm “muốn kháng chiến lâu dài và giành thắng lợi cuối cùng, phải đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi toàn dân” của Đảng ta… trong các cuộc đấu tranh giành lại độc lập và giữ nước có sự kế thừa một cách sáng tạo những bài học quý giá về nghệ thuật quân sự của ông cha ta, trong đó có Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo. 

7. Quan điểm về phẩm chất của người lãnh đạo 

Phát ngôn và hành động lãnh đạo của Trần Nhân Tông có liên quan đến nhiều khía cạnh của phẩm chất lãnh đạo, trong đó, có hai khía cạnh quan trọng sau đây: 

(1) Người lãnh đạo trước hết phải yêu quý dân, chăm lo cho dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc 

Từ nhỏ, Trần Nhân Tông đã được vua cha Trần Thánh Tông chăm lo giáo dưỡng mọi mặt để chuẩn bị kế tục sự nghiệp tổ tiên nhà Trần lãnh đạo quốc gia Đại Việt. 

Trên bức tranh “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ” có ghi lời đề từ về Trần Nhân Tông như sau: “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”. Người thầy dạy có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến Trần Nhân Tông là Tuệ Trung Thượng sĩ, một thiền sư nổi tiếng, phẩm chất thanh tao, dung dị, uyên bác về tri thức xã hội, Phật giáo. Thiền sư được vua Trần Thánh Tông giao trọng trách giáo dục Trần Khâm (tên Trần Nhân Tông ngày nhỏ) từ khi 3 tuổi. Trần Khâm chịu ảnh hưởng từ thầy, ngày trẻ từng mong muốn xuất gia đi tu, từ chối làm Thái tử nhưng sau đó vâng mệnh vua cha lo cho xã tắc nếu không có người giỏi kế nghiệp nên đã chấp thuận lên ngôi kế vị. 

Trở thành vị vua thứ ba của triều đại nhà Trần từ khi còn rất trẻ, mới 20 tuổi, nhưng ở Trần Nhân Tông đã hình thành đậm nét nhân sinh quan của nhà lãnh đạo tầm quốc gia mang tính nhân văn và tính dân tộc sâu sắc. Triết lý Phật giáo nêu cao cách sống “từ, bi, hỷ, xả”, yêu thương mọi chúng sinh được học từ thầy và truyền thống của gia đình luôn giáo dục trách nhiệm lo cho dân, cho nước là những yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến quan điểm của Trần Nhân Tông về mối quan hệ giữa vua và dân. Từ thủa mới kiến tạo Vương triều nhà Trần, vua Trần Thái Tông (ông nội của Trần Nhân Tông) đã rất tâm đắc với lời khuyên của thiền sư Viên Chứng: “Phàm là kẻ làm vua thì phải lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình”. Khi trị vì, Trần Thái Tông đã từng nói: “Trẫm muốn đi ra ngoài chơi, để được nghe tiếng nói của dân và xem xét lòng dân, cho biết tình trạng khó khăn của dân”. Quan điểm lãnh đạo trước hết phải lo cho dân tiếp tục được Trần Nhân Tông thực hiện và phát triển. 

Xuất phát từ tấm lòng yêu dân, ông chủ trương xây dựng chính quyền thân dân, trọng dân, vì dân. Khi vừa mới lên ngôi, đất nước đứng trước họa xâm lăng, thế giặc rất mạnh, ông đã cùng Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông tổ chức Hội nghị Diên Hồng để hỏi ý kiến các bô lão đại diện cho nhân dân về việc chống giặc Nguyên - Mông. Khi nghe các bô lão đồng lòng “quyết đánh”, hiểu rõ “ý muốn của dân”, ông đã thực hiện xuất sắc vai trò người lãnh đạo, tổng chỉ huy chiến lược, cùng với Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn huy động quân, dân cả nước hai lần đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Ngay sau chiến tranh, thấu hiểu nỗi thống khổ của dân, đức vua đã thi hành chính sách “khoan thư sức dân”, miễn giảm thuế; phát chẩn lúa gạo khi thiên tai. Thống kê từ “Đại Việt sử ký toàn thư” cho thấy có 3 lần đức vua thực hiện phát chẩn lương thực cứu dân khỏi nạn đói do chiến tranh và thiên tai, có 9 lần ban chiểu tự răn, nhắc nhở giữ gìn phẩm chất, chăm lo cho dân.

Quan điểm và tấm lòng yêu dân, tư duy về xây dựng chính quyền “thân dân, trọng dân, vì dân” của ông còn thể hiện ở việc không cho phép bộ máy nhà nước phình to (nhiều chức quan) để dân phải oằn lưng gánh chịu; không ban thưởng quá nhiều, trừng trị thích đáng những quan lại tham nhũng, đối xử hòa ái với những người ở địa vị thấp. 

Trong tác phẩm “Đại Việt sử ký toàn thư”, các sử quan nhận xét khái quát về Trần Nhân Tông là đức vua “nhân từ, hòa nhã, cố kết lòng dân”. Dù đã nhường ngôi cho con trai và xuất gia tu hành nhưng ông vẫn dõi theo thế sự, lo lắng cho muôn dân. Cũng vì mong nhân dân có cuộc sống bình an trong tâm mà ông quyết tâm xây dựng Thiền phái Trúc Lâm mang bản sắc dân tộc, giáo hóa dân chúng theo quan điểm “Phật giáo nhập thế”, nghĩa là, triết lý đạo Phật phải dễ vận dụng vào đời thường, sống trong dòng đời muốn vui với đạo thì phải khéo tùy duyên. Đi tu nhưng tâm trí Phật hoàng vẫn không rời việc nước. Một lần, về thăm kinh thành, thấy vua Trần Anh Tông say rượu không quan tâm việc triều chính; Phật hoàng đã yêu cầu ngay hôm sau phải đến gặp và lập tức cảnh báo về việc sẽ để người con khác nối ngôi. Việc ông chọn vị trí tu thiền ở núi cao Yên Tử cũng không phải chỉ vì nơi đây yên tĩnh, non xanh nước biếc, mà vì đây là vị trí đắc địa để dõi nhìn về phương Bắc, có thể sớm phát hiện những động tĩnh liên quan đến an nguy của quốc gia. 

(2) Người lãnh đạo cần dùng nhân tâm để thu phục lòng người, tin tưởng trao quyền cho người tài và quan tâm động viên, khích lệ tướng sĩ 

Trong quá trình lãnh đạo, quan điểm và nghệ thuật dùng người có vai trò hết sức quan trọng tạo nên uy tín, sức mạnh của hệ thống lãnh đạo. Trần Nhân Tông thể hiện quan điểm là khi đã nhìn ra người tài, chọn giao việc thì luôn tin tưởng và hỗ trợ, động viên. Dùng đạo đức và tâm nguyện vì nước, vì dân, Trần Nhân Tông đã thu phục được Trần Hưng Đạo, tạo động lực cho lòng trung thành phụng sự đất nước. 

Bên cạnh đó, mặc dù có những trận đánh mà phía quân ta bị tổn thất quân ngoài dự kiến nhưng vua Trần Nhân Tông vẫn một lòng tin tưởng tướng quân như trận đánh tại ải Nội Bàng - một trận đánh lớn do Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy, quân ta thua trận, phải vội vàng rút quân. Khi được cấp báo về chiến sự trận này, Trần Nhân Tông đã bỏ ăn sáng, dong thuyền suốt ngày ra Hải Đông để gặp Trần Hưng Đạo cùng bàn kế sách cho những trận tiếp theo. Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi: “Hưng Đạo Vương vâng lệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm, chọn người mạnh, khỏe làm quân tiên phong vượt biển vào nam. Thế quân đã hơi nổi. Các quân nghe thế, không quân nào là không đến tụ họp. Vua làm thơ đề ở cuối thuyền rằng: 

Cối Kê việc cũ ông nên nhớ
Hoan Ái vẫn còn mười vạn quân”

Dùng ý thơ “Cối Kê việc cũ”, ông muốn gợi nhắc về điển tích Câu Tiễn nước Việt xưa bị Phù Sai nước Ngô đánh bại nhưng đã chấp nhận gian khổ, nếm mật nằm gai, sau đó vùng lên tiêu diệt Phù Sai để giành chiến thắng. Chỉ với hai câu thơ ngắn gọn vừa nhắc “điển tích” cũ để noi gương, hun đúc ý chí, vừa khéo thông báo ta còn “10 vạn quân” ở Hoan Ái sẵn sàng bổ sung lực lượng để tướng sĩ yên tâm. Rõ ràng, Trần Nhân Tông luôn bám sát tình hình chiến trận để lo nghĩ cùng Trần Hưng Đạo và có những chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, động viên tướng sĩ kịp thời, nhất là lúc nguy nan để họ không nản chí, vững tin vào thắng lợi cuối cùng. Trong thực tiễn lãnh đạo của mọi thời, việc tin dùng người tài, trao quyền và động viên khích lệ, nhất là vào những lúc nguy nan hay kể cả khi thất bại vẫn luôn là một năng lực vô cùng quan trọng của người lãnh đạo, nhất là người đứng đầu.

Tóm lại, bản lĩnh, sự sáng suốt, và nghệ thuật tài tình trong huy động sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc; chăm lo xây dựng bộ máy nhà nước thân dân, trọng dân, vì dân của Trần Nhân Tông luôn được soi sáng bởi ý thức về sứ mệnh phải bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của dân tộc và nghệ thuật xây dựng mối quan hệ hòa hảo với nước láng giềng để tạo thế thuận lợi cho việc duy trì nền hòa bình, dân chúng được bình yên, hạnh phúc. Chính thực tiễn lãnh đạo của ông cùng với các chỉ dụ, khẩu dụ của ông vừa là nền tảng vừa là những bằng chứng sống đầy tính thuyết phục cho quan điểm, tư tưởng của Trần Nhân Tông về lãnh đạo./.

Phường Trần Nhân Tông
QR Code
image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0